Bệnh thiếu máu: Triệu chứng, nguyên nhân và cách phòng chống

Thiếu máu là một tình trạng do sự bất thường của các hồng huyết cầu (red blood cell), ngay từ lúc sinh ra hay mới bị sau này, hoặc là biểu hiện của một bệnh không phải bệnh về máu.

Khi có thiếu máu, khối lượng hồng huyết cầu lưu thông trong máu sút giảm, trị số hemoglobin của người thiếu máu dưới 12 g/dl nếu là phụ nữ, dưới 14 g/dl nếu là đàn ông.

I. CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH THIẾU MÁU:

Triệu chứng tùy vào nguyên nhân gây thiếu máu, mức độ thiếu máu nhẹ hay nặng, thiếu máu xảy ra từ từ hay mau chóng. Nhiều trường hợp thiếu máu nặng vẫn không gây triệu chứng gì cả nếu thiếu máu xảy ra chậm chậm qua nhiều ngày tháng; nhưng thường, khi trị số hemoglobin (viết tắt Hb) xuống dưới 7 g/dl, người bệnh sẽ thấy mau mệt, nhức đầu, khó thở, choáng váng, đau ngực. Khi người bệnh trông xanh quá, than nhìn không còn rõ, xỉu, tim đập nhanh, ta nên mau chóng thăm khám và chữa trị ngay.
Nhiều trường hợp thiếu máu được khám phá khi bác sĩ tình cờ thử CBC (complete blood count, đếm máu toàn diện: cho biết các trị số bạch cầu, hồng cầu, Hb, tiểu cầu, thể tích hồng cầu, xem hồng cầu bình thường, to hoặc nhỏ… Thường ta thử CBC mỗi 3 năm để truy tìm thiếu máu, và các bệnh về máu khác).

II. NGUYÊN NHÂN GÂY THIẾU MÁU:

Nguyên nhân tạo thiếu máu rất nhiều:
– Thiếu máu do thiếu chất sắt: chiếm đến 25-35% các trường hợp thiếu máu, xảy ra trong những trường hợp mất máu lâu ngày, như phụ nữ ra máu nhiều khi có kinh; ung thư ruột già khiến máu âm thầm chảy rỉ rả ngày này sang ngày khác, dù mắt ta không nhìn thấy…
– Do bệnh kinh niên: cũng chiếm 25-35% các trường hợp thiếu máu. Các bệnh kinh niên như bệnh thận, bệnh gan, bệnh tuyến nội tiết… lâu ngày có thể khiến ta đâm thiếu máu.
– Tan huyết (hemolytic anemia, các hồng huyết cầu bị phá hủy) và tủy xương không tạo đủ máu: 15% các trường hợp thiếu máu.
– Bệnh myelodysplasia: 10% các trường hợp thiếu máu.
– Bệnh thalassemia (khiến hồng huyết cầu có dạng nhỏ): 5-10% các trường hợp thiếu máu.
– Các bệnh khác: 5-10% các trường hợp thiếu máu. Chẳng hạn như bệnh thiếu chất sinh tố B12, thiếu chất folate…

Phân loại theo nguyên nhân bệnh sinh:

– Thiếu máu do rối loạn tế bào gốc là thiếu máu do sản xuất không đủ hồng cầu hoặc không đủ huyết sắc tố.

·      Do giảm số lượng các yếu tố tạo hồng cầu trong tủy xương: có thể do di truyền bẩm sinh hoặc do mắc phải.

·      Do bệnh lý ức chế tạo hồng cầu mặc dù đủ yếu tố thường do bệnh lý mắc phải.

·      Do thiếu yếu tố đặc hiệu tạo hồng cầu.

– Thiếu máu do tan máu:

·      Do rối loạn bên trong hồng cầu: do cấu trúc màng hồng cầu, thiếu men hồng cầu, rối loạn tổng hợp huyết sắc tố do globin hay do heme.

·      Do rối loạn bên ngoài hồng cầu: do rối loạn miễn dịch và do rối loạn không do miễn dịch bởi các yếu tố ngoại lai.

– Thiếu máu giả tạo: là thiếu máu do bị tăng thể tích huyết tương do sinh lý hoặc bệnh lý.

2. Phân loại theo hình thái kích thước hồng cầu:

– Thiếu máu hồng cầu nhỏ, nhược sắc khi:

·      NĐHbTBHC < 300g/l

·      LHbTBHC < 27 pg

·      TTTBHC < 60 fl

– Thiếu máu HC to khi

·      NĐHbTBHC < 370g/l

·      LHbTBHC < 30 pg

·      TTTBHC < 105 fl

– Thiếu máu hồng cầu bình sắc khi

·      NĐHbTBHC < 300g/l

·      LHbTBHC < 28 pg

·      TTTBHC < 80 fl

Ý nghĩa của việc phân loại theo hình thái kích thước hồng cầu:

– Thiếu máu hồng cầu nhỏ, nhược sắc là do bất thường chất lượng tổng hợp huyết sắc tố gây loạn sản hồng cầu.

– Thiếu máu hồng cầu to là do bất thường cung cấp các chất để sản xuất tái tạo hồng cầu.

– Thiếu máu hồng cầu bình thường bình sắc: nếu thiếu máu không hồi phục là do bất thường ở tủy xương. Nếu thiếu máu có hồi phục có thể do mất máu chảy máu ở ngoại vi.

Giá trị của chỉ số sự phân bố hình thái kích thước hồng cầu (RDW = Red (cell) Distribution width).

RDW: BT = 13,5 ± 1,5% (12 – 15%)

TTTBHC thấp TTTBHC BT TTTBHC cao
RDW cao
– Thiếu máu thiếu sắt
– HBS, HbH
– β Thalassemia
– Bệnh về gan
– Bệnh hoại tử tủy xương
– B. xơ tủy xương

– Thiếu máu nguyên bào sắc

– CLL, CML

Thiếu máu do thiếu acid folic
– Thiếu máu do tan máu miễn dịch
RDW bình thường – β Thalassemia
– Bệnh suy tủy xương
– Thiếu máu bất sản tủy

Về điều trị thiếu máu: cố gắng điều trị nguyên nhân để cắt nguồn gây thiếu máu và điều trị triệu chứng là cung cấp các chất để tạo hồng cầu hay truyền máu. Hiện nay có chất Erythropoietin là chất để tạo nên hồng cầu nhưng sự chỉ định có giới hạn là trong thiếu máu khó chữa hoặc trong bệnh viêm thận mãn chỉ định vì các bệnh này không tạo được Erythropoietin để tạo hồng cầu.

III. PHÒNG CHỐNG THIẾU MÁU:

1- Biện pháp cải thiện chế độ ăn, đa dạng hoá bữa ăn, ăn nhiều loại thức ăn khác nhau nhất là nguồn thức ăn động vật có nhiều sắt như thịt, GAN, TRỨNG, TIẾT, THỨC ĂN GIÀU VITAMIN C NHƯ RAU QUẢ.

2-  Tăng cường sắt vào thực phẩm: Hiện nay nước ta đang nghiên cứu tăng cường sắt vào thức ăn như bánh bích qui, nước mắm, nhằm đưa một lượng sắt đủ cho nhu cầu qua những thức ăn này .

3- Phối hợp với các chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống nhiễm khuẩn, vệ sinh môi trường, phòng chống nhiễm giun.

4- Bổ sung viên sắt cho các đối tượng có nguy cơ cao

Phụ nữ lứa tuổi từ 13 trở lên, cần được uống viên sắt dự phòng, mỗi tuần uống một viên để tạo nguồn sắt dự trữ đầy đủ cho cơ thể. Khi có thai cần kết hợp ăn uống tốt với uống viên sắt đều đặn, mỗi ngày một viên (60mg sắt) trong suốt thời gian mang thai cho tới sau khi sinh 1 tháng.

Bổ sung sắt cho trẻ em là  rất cần thiết, nhưng cần có chỉ định và theo dõi của thầy thuốc