Bệnh Alzheimer

Bệnh Alzheimer là nguyên nhân sa sút trí tuệ phổ biến nhất, trong đó năng lực trí tuệ và xã hội bị mất nhiều đến mức cản trở các hoạt động hàng ngày. Sa sút trí tuệ xảy ra ở người bị bệnh Alzheimer vì mô não bình thường bị thoái hóa, gây suy giảm dần trí nhớ và năng lực tinh thần.

Hơn 4 triệu người già ở Mỹ bị bệnh Alzheimer, bệnh thường xảy ra ở người ≥ 65 tuổi. Con số này dự kiến sẽ tăng gấp 4 lần vào năm 2050 khi có nhiều người sống tới 80-90 tuổi.

Mặc dù chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng các nhà nghiên cứu đã có nhiều tiến bộ. Các biện pháp điều trị hiện có giúp cải thiện chất lượng sống cho người bị bệnh Alzheimer. Nhiều thuốc đang được nghiên cứu, và các nhà khoa học đã phát hiện ra một số gen có liên quan tới bệnh Alzheimer, có thể dẫn đến những biện pháp điều trị mới nhằm ngăn chặn tiến triển của căn bệnh phức tạp này.

Đồng thời, việc chăm sóc người bệnh Alzheimer đòi hỏi sự kiên nhẫn và chú trọng tới những điều mà người bệnh vẫn còn làm được và tận hưởng được. Người bị bệnh Alzheimer cũng như người chăm sóc họ cần sự giúp đỡ và tình cảm từ phía bạn bè và gia đình để đối phó với bệnh.

Dấu hiệu và triệu chứng

Ai cũng thỉnh thoảng có lúc đãng trí. Việc quên tên một người mà bạn ít khi gặp là khá bình thường. Nhưng việc quên tên những người và đồ vật quen thuộc thì không phải là một phần bình thường của tuổi già.

Bệnh Alzheimer – một bệnh não (thoái hóa) tiến triển – không chỉ là thói hay quên đơn giản. Nó có thể bắt đầu bằng giảm trí nhớ và lú lẫn nhẹ, nhưng cuối cùng nó dẫn tới suy giảm tâm thần không thể hồi phục, phá huỷ khả năng nhớ, suy luận, học hỏi và tưởng tượng của người bệnh.

Phần lớn người bệnh Alzheimer có chung một số dấu hiệu và triệu chứng của bệnh gồm:

– Quên tăng lên và dai dẳng: Vào lúc khởi phát, bệnh Alzheimer đặc trưng bởi những giai đoạn hay quên, đặc biệt là những sự kiện mới xảy ra hoặc những chỉ dẫn đơn giản. Nhưng tình trạng hay quên trở nên dai dẳng và nặng dần. Người bị bệnh Alzheimer có thể nhắc lại mọi điều và quên cuộc nói chuyện hoặc buổi hẹn. Họ thường đặt đồ vật sai chỗ, đặt chúng vào những chỗ không hợp lý. Họ hay quên tên, và cuối cùng họ có thể quên tên của người thân trong gia đình và các đồ vật hàng ngày.

– Khó khăn trong tư duy trừu tượng: Người bị bệnh Alzheimer ban đầu có thể gặp trục trặc trong việc cân bằng sổ chi tiêu, vấn đề thường tiến triển nặng thành khó khăn trong nhận diện và hiểu con số.

– Khó tìm từ thích hợp: Tìm từ thích hợp để bày tỏ suy nghĩ hoặc thậm chí theo dõi cuộc nói chuyện có thể là một thách thức đối với người bị bệnh Alzheimer. Cuối cùng, việc đọc và viết cũng bị ảnh hưởng.

– Mất định hướng: Người bị bệnh Alzheimer có thể mất ý thức về thời gian và ngày. Họ có thể tự thấy mình bị lạc trong môi trường quen thuộc. Cuối cùng, thậm chí họ có thể đi lang thang khỏi nhà.

– Mất khả năng phán đoán: Việc giải quyết những vấn đề hàng ngày như biết được nên làm gì khi thức ăn trên bếp bị cháy càng ngày càng trở nên khó khăn, và cuối cùng là không thể làm được. Bệnh Alzheimer đặc trưng bởi khó khăn lớn khi phải làm những việc đòi hỏi phải lập kế hoạch, ra quyết định và phán đoán.

– Khó thực hiện những công việc quen thuộc: Những công việc từng rất nề nếp đòi hỏi các bước tuần tự như nấu ăn trở thành một cuộc vật lộn khi bệnh tiến triển. Cuối cùng, người bị bệnh Alzheimer giai đoạn muộn có thể quên cách làm những việc cơ bản nhất.

– Thay đổi tính cách: Người bị bệnh Alzheimer có thể biểu hiện tâm trạng thất thường. Họ có thể biểu lộ sự nghi ngờ với người khác, tính bướng bỉnh tăng lên và sống thu mình lại. Ban đầu, điều này có thể là phản ứng với sự tuyệt vọng mà họ cảm thấy khi nhận ra những thay đổi không kiểm soát được trong trí nhớ. Trầm cảm thường đi kèm với bệnh Alzheimer. Bồn chồn cũng là dấu hiệu phổ biến. Khi bệnh tiến triển, người bị bệnh Alzheimer có thể trở nên lo âu hoặc hung hăng và cư xử không đúng mực.

Thông thường, người thân sẽ nhận thấy những thay đổi rất từ từ không đột ngột ở người bệnh Alzheimer. Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng trở nên nặng và có thể nhận thấy người bệnh hoặc người thân của họ tìm kiếm sự giúp đỡ y tế. Nhiều người bệnh Alzheimer nhận thấy có điều gì đó đang xảy ra với trí nhớ của họ, điều này có thể khiến họ hoảng sợ.

Diễn biến của bệnh và tốc độ diễn ra những thay đổi rất khác nhau giữa các bệnh nhân. Đối với một số người, tiến triển từ chứng hay quên đơn giản tới sa sút trí tuệ nặng là 5 năm. Đối với những người khác, quá trình này có thể diễn ra trong hàng chục năm hoặc lâu hơn.

Nhìn chung bệnh Alzheimer tiến triển từ nhẹ, vừa tới nặng rồi cuối cùng tới suy giảm hoàn toàn. Người bị bệnh Alzheimer nhẹ có thể sống một mình và đảm nhiệm chức năng khá tốt. Người bị bệnh Alzheimer trung bình có thể đối phó khó khăn hơn song chưa cần giám sát. Người bệnh Alzheimer giai đoạn muộn nói chung không thể tự chăm sóc bản thân.

Các nhà nghiên cứu đã xác định được một tình trạng giảm trí nhớ gọi là suy giảm nhận thức nhẹ, có thể gọi là giai đoạn tiền Alzheimer. Tình trạng giảm trí nhớ này nằm giữa giảm trí nhớ do tuổi già bình thường và giảm trí nhớ thường gặp trong bệnh Alzheimer. Người bị suy giảm nhận thức nhẹ có thể bị quên nhiều hơn tình trạng quên điển hình do tuổi già, tuy nhiên họ không bị tình trạng sa sút trí tuệ của bệnh Alzheimer. Xác định loại giảm trí nhớ này có thể giúp bác sĩ chẩn đoán, đưa ra lời khuyên và điều trị chính xác hơn cho bệnh nhân. Nó cũng báo động cho bệnh nhân về nguy cơ cao bị bệnh Alzheimer.

Trước đây, người ta gọi là sa sút trí tuệ là tình trạng lão suy và coi đó là một phần tất yếu của tuổi già. Ngày nay các bác sĩ biết rằng sa sút trí tuệ không phải là một phần bình thường của tuổi già và nó do một chứng bệnh nào đó ảnh hưởng tới não gây ra.

Nhiều bệnh khác nhau có thể gây sa sút trí tuệ. Bệnh Alzheimer chiếm hơn một nửa số ca sa sút trí tuệ. Tuy nhiên, có khoảng 50 chứng bệnh khác có thể gây sa sút trí tuệ. Một số là điều trị được như trầm cảm. Điều này khiến cho việc chẩn đoán các dấu hiệu và triệu chứng đặc thù của sa sút trí tuệ và cố gắng xác định nguyên nhân của nó là rất quan trọng.

Nguyên nhân

Nguyên nhân gây bệnh Alzheimer còn chưa được hiểu rõ. Nhưng các nhà nghiên cứu thấy rằng người bệnh Alzheimer có tế bào não bị tổn thương và chết vì lý do còn chưa rõ.

Một bộ não khoẻ mạnh có khoảng 100 tỷ tế bào thần kinh gọi là các nơron. Các nơron phát ra tín hiệu điện và hoá học được truyền từ nơron này tới nơron khác để giúp bạn suy nghĩ, nhớ lại và cảm nhận. Các chất hóa học gọi là chất dẫn truyền thần kinh giúp  những tín hiệu này truyền liên tục giữa các nơron.

Ban đầu ở người bị bệnh Alzheimer, nơron ở một số vị trí của não bắt đầu chết. Khi chúng chết, nồng độ chất dẫn truyền thần kinh được sinh ra bị giảm đi, gây ra những rối loạn trong việc truyền tín hiệu ở não.

Bệnh Alzheimer được đặt theo tên một bác sĩ chuyên khoa thần kinh người Đức là Alois Alzheimer. Năm 1906, ông đã nghiên cứu não của một phụ nữ chết sau nhiều năm bị sa sút trí tuệ tiến triển. Mô não của bà có những khối bất thường và những đám không đều của tế bào não. Ngày nay, những khối  này (gọi là mảng bám) và những đám (gọi là đám rối) được xem là dấu hiệu đặc trưng của bệnh Alzheimer.

Các nhà nghiên cứu đang tiếp tục tìm hiểu những cấu trúc bất thường này – mảng bám và đám rối – để hiểu rõ hơn tại sao tế bào não lại chết dần ở người bệnh Alzheimer. Đồng thời, các nhà khoa học đề ra những giả thuyết có thể giải thích những cấu trúc này có liên quan tới bệnh Alzheimer như thế nào.

Mảng bám: Mảng bám được tạo thành từ một loại protein bình thường vô hại gọi là beta-amyloid. Người  ta tin rằng sự lắng đọng mảng bám hình thành giữa các nơron diễn ra sớm trong quá trình bệnh, trước khi các nơron bắt đầu chết và triệu chứng diễn ra. Mặc dù nguyên  nhân cơ bản của tình trạng chết nơron trong bệnh Alzheimer còn chưa được hiểu rõ, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy sự hình thành protein beta-amyloid có thể là thủ phạm, 3 đột biến gen – ở protein  tiền thân amyloid (APP) và protein presenilin 1 (PS1) và presenilin 2 (PS2) – gây ra một số ít trường hợp bệnh Alzheimer khởi phát sớm. Những đột biến này dẫn tới sản sinh các mảng bám amyloid. Cùng với nhau, ba đột biến di truyền này ước tính chiếm dưới 10% số ca bệnh Alzheimer.

Đám rối: Cấu trúc hỗ trợ bên trong cho các nơron não dựa trên chức năng bình thường của một protein gọi là tau của người bệnh Alzheimer, chuỗi protein tau có những thay đổi làm chúng bị xoắn lại. Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng điều này có thể gây tổn thương.

Phản ứng viêm

Các nhà nghiên cứu đã thấy tình trạng viêm rõ rệt ở não của một số người bịbệnh Alzheimer. Viêm là phản ứng của cơ thể với tổn thương hoặc nhiễm trùng và là một phần tự nhiên của quá trình lành vết thương.

Ngay khi mảng bám beta amyloid hình thành trong khoảng cách giữa các nơron, tế bào miễn dịch (microglia) làm công việc loại bỏ những tế bào chết và các sản phẩm cặn bã khác ở não. Các nhà khoa học phỏng đoán rằng microglia có thể xem các mảng bám là những chất ngoại lai trong cơ thể và cố gắng phá hủy chúng, kích thích phản ứng viêm. Hoặc microglia có thể thử loại bỏ các nơron bị tổn thương. Microglia cũng có thể hoạt hoá các hợp chất khác gây viêm, gồm protein interleukin – 1, enzym COX – 2 và một nhóm protein gọi là bổ thể, chống lại các tế bào đã được microglia đánh dấu. Mặc dù các nhà nghiên cứu cho rằng viêm xảy ra trước khi các mảng bám được hình thành đầy đủ, song họ chưa biết chắc diễn biến này có liên quan tới quá trình tiến triển bệnh như thế nào. Cũng còn tranh cãi về việc liệu viêm gây tổn hại cho các nơron không hay nó có lợi trong việc quét sạch các mảng bám.

Yếu tố nguy cơ

Bệnh Alzheimer là một bệnh phức tạp do nhiều tác động gây ra. Mặc dù tất cả những tác động này chưa được hiểu rõ, các nhà khoa học đã xác định được một số yếu tố nguy cơ có thể làm tăng khả năng bị bệnh Alzheimer. Họ kết luận:

Tuổi: Bệnh Alzheimer thường xảy ra ở người > 65 tuổi, nhưng trong một số ít trường hợp có thể xảy ra ở người < 40 tuổi. Tuổi trung bình khi chẩn đoán là khoảng 80. Chỉ từ 1-2/100 người mắc bệnh Alzheimer ở độ tuổi 65, nhưng nguy cơ tăng tới khoảng 1/5 ở người độ tuổi 80. Đến độ tuổi 90, một nửa số người  có một số triệu chứng. Phụ nữ dễ bị bệnh hơn nam giới, một phần do họ sống thọ hơn.

Di truyền: Nguy cơ mắc bệnh Alzheimer có vẻ cao hơn đôi chút nếu có một người thân trực hệ -như cha, mẹ, anh em trai hoặc chị em gái – bị bệnh. Mặc dù cơ chế di truyền bệnh Alzheimer trong gia đình phần nhiều còn chưa được giải thích, các nhà nghiên cứu đã xác định được được một vài đột biến gen làm tăng nguy cơ ở một số gia đình. Ba đột biến gen được biết là gây bệnh Alzheimer khởi phát sớm. Ngoài ra, một hình thái của gen apolipoprotein E (APOE) làm tăng khả năng bị bệnh Alzheimer khởi phát muộn.

Môi trường: Các nhà khoa học đang nghiên cứu các yếu tố môi trường để khám phá cả nguyên nhân và cách phòng ngừa bệnh Alzheimer. Thí dụ, một số người bệnh Alzheimer có lắng đọng nhôm trong não. Nhưng các nhà khoa học đã nghiên cứu nguồn nhôm trong môi trường – mọi thứ từ chất chống ra mồ hôi tới nước uống – đều không tìm thấy mối liên quan giữa tiếp xúc với nhôm và bệnh Alzheimer. Họ cũng xem xét tình trạng hút thuốc là và tiếp xúc với những rủi ro nghề nghiệp như keo dán, thuốc trừ sâu, phân bón hoặc thậm chí là trường điện từ như những yếu tố có thể góp phần gây bệnh Alzheimer. Tuy nhiên, kết quả của tất cả những nghiên cứu này còn chưa thống nhất, và tại thời điểm này, vẫn chưa có bằng chứng không thể bác bỏ cho thấy có yếu tố môi trường hoặc lối sống làm tăng nguy cơ bệnh Alzheimer.

Mức độ hoạt động tinh thần: Một số nghiên cứu cho rằng học vấn thấp có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer. Những nghiên cứu khác cho thấy duy trì hoạt động tinh thần trong suốt cuộc đời, đặc biệt là những năm tuổi già, làm giảm nguy cơ. Những nghiên cứu này ủng hộ quan điểm cho rằng con người có thể tác động vào nguy cơ mắc bệnh Alzheimer của mình dựa trên hoạt động tinh thần. Tuy nhiên, những thay đổi có liên quan tới bệnh Alzheimer xảy ra trong não hàng thập kỷ trước khi bệnh biểu hiện rõ ràng qua thay đổi hành vi. Vì vậy, vẫn chưa rõ liệu học vấn thấp tạo ra nguy cơ mắc bệnh Alzheimer hay chỉ đơn giản là bệnh Alzheimer dễ phát hiện hơn ở người có học vấn thấp.

Chấn thương sọ não: Quan sát thấy rằng một số cựu võ sĩ quyền Anh cuối cùng bị sa sút trí tuệ đưa đến câu hỏi là liệu chấn thương nghiêm trọng ở đầu (thí dụ, kèm theo mất ý thức kéo dài)  có thể  là yếu tố nguy cơ gây bệnh Alzheimer hay không. Một số nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan rõ ràng giữa hai điều này, đặc biệt là ở nam giới. Các nghiên cứu khác chỉ thấy mối tương quan yếu không có ý nghĩa thống kê giữa chấn thương sọ não và bệnh Alzheimer.

Liệu pháp thay thế hormon: Phát hiện được công bố trên tạp chí Journal of the American Medical Association ngày 28/5/2003 cho thấy phụ nữ dùng liệu pháp hormon phối hợp – estrogen cộng progesteron – bị tăng gấp đôi nguy cơ sa sút trí tuệ, bao gồm bệnh Alzheimer

Các yếu tố khác: Một số nghiên cứu cho thấy có mối tương quan tỉ lệ thuận giữa bệnh Alzheimer, huyết áp cao và cholesterol cao. Trầm cảm cũng được xác định là một yếu tố nguy cơ của bệnh Alzheimer.

Sàng lọc và chẩn đoán

Hiện chưa có xét nghiệm chẩn đoán bệnh Alzheimer. Thay vào đó, bác sĩ chẩn đoán bệnh Alzheimer thông qua quá trình loại trừ – loại trừ những chứng bệnh khác cũng có thể gây mất trí nhớ.

Thí dụ, đột quỵ nhẹ không phát hiện được có thể gây sa sút trí tuệ do gián đoạn tạm thời lượng máu tới não. Người bị bệnh Parkison, một bệnh thần kinh thoái hoá, cũng có thể bị sa sút trí tuệ. Trầm cảm có thể gây suy giảm trí nhớ. Ngoài ra, nhiều người già còn dùng những thuốc có thể làm giảm khả năng tư duy sáng suốt.

Để giúp chẩn đoán bệnh Alzheimer với các nguyên nhân khác gây mất trí nhớ – thường điều trị được – bác sỹ dựa vào những điểm sau:

Tiền sử bệnh tật: Bác sỹ có thể hỏi về sức khoẻ chung và những chứng bệnh trước đây của người bệnh. Họ muốn biết về mọi vấn đề mà người đó gặp phải trong khi thực hiện các hoạt động hàng ngày. Nếu có thể, bác sĩ cũng sẽ muốn nói chuyện với gia đình hoặc bạn bè của người bệnh để biết thêm thông tin.

Các xét nghiệm cơ bản: Xét nghiệm máu và nước tiểu có thể giúp bác sỹ loại trừ những nguyên nhân khác của sa sút trí tuệ. Trong một số trường hợp xét nghiệm dịch não tủy cũng có thể giúp ích.

Đánh giá tình trạng tâm thần: Những xét nghiệm này kiểm tra trí nhớ, năng lực giải quyết vấn đề, thời gian chú ý, kỹ năng đếm và ngôn ngữ. Chúng giúp bác sĩ chỉ ra những vấn đề cụ thể mà người bệnh gặp phải. Thí dụ, bác sĩ có thể kiểm tra trí nhớ ngắn hạn và dài hạn bằng cách hỏi. Hôm nay là thứ mấy? hoặc Chiến tranh Thế giới Thứ II xảy ra khi nào? Các xét nghiệm hồi tưởng là một thí dụ khác. Bác sĩ có thể liệt kê những đồ vật quen thuộc, và sau đó yêu cầu mỗi người nhắc lại ngay lập tức, và nhắc lại sau 5 phút.

Trắc nghiệm tâm thần kinh: Đôi khi bác sĩ tiến hành một đánh giá rộng hơn về trí nhớ, năng lực giải quyết vấn đề, thời gian chú ý, kỹ năng đếm và ngôn ngữ. Điều này đặc biệt có ích trong việc phát hiện bệnh Alzheimer và các sa sút trí tuệ khác ở giai đoạn sớm. Bác sĩ dùng các xét nghiệm tâm lý chính thức để xác định xem liệu năng lực tâm thần của một người có phù hợp với tuổi và trình độ học vấn của người đó không. Mô hình thiếu hụt tâm thần thấy trong quá trình trắc nghiệm tâm thần kinh có thể giúp bác sĩ tìm ra nguyên nhân của sa sút trí tuệ.

Chụp não: Bác sĩ có thể muốn chụp để có hình ảnh của não. Có nhiều kiểu chụp não – gồm chụp cắt lớp vi tính (CT), chụp cộng hưởng từ (MRI) và chụp cắt lớp phát positron (PET). Bằng cách xem xét hình ảnh của não, bác sĩ có thể chỉ ra những bất thường nhìn thấy được.

Sử dụng các phương pháp trên, bác sĩ có thể chẩn đoán chính xác 90% các ca bệnh Alzheimer. Bệnh Alzheimer chỉ có thể được chẩn đoán với độ chính xác 100% sau khi kiểm tra mô não bằng kính hiển vi để tìm các mảng bám và đám rối.

Xét nghiệm gen phát hiện bệnh Alzheimer còn đang trong giai đoạn sơ khai. Đã có những xét nghiệm máu có thể cho biết liệu một người có mang những đột biến gen liên quan tới bệnh Alzheimer hay không, nhưng xét nghiệm không thể cho biết người đó sẽ bị bệnh hay sẽ không bị bệnh.

 

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)

Biến chứng

Phần lớn người bị bệnh Alzheimer không chết vì bệnh này mà chết bởi các bệnh thứ phát, như viêm phổi hoặc một nhiễm trùng khác.

Trong bệnh Alzheimer giai đoạn muộn, người bệnh có thể mất mọi khả năng tự chăm sóc bản thân. Họ có thể khó ăn uống, đại tiểu tiện không tự chủ, hoặc không có khả năng đi bộ và tìm đường về nhà.

Những bất lực này có thể làm tăng nguy cơ của các biến chứng như:

Viêm phổi: Khó nuốt thức ăn và nước có thể khiến cho người bị bệnh Alzheimer hít phải thức ăn và nước uống vào đường thở và phổi, có thể dẫn tới viêm phổi.

Nhiễm trùng: Tiểu tiện không tự chủ có thể cần đặt ống thông tiểu, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu. Nhiễm trùng đường tiết niệu không được điều trị có thể dẫn tới nhiễm trùng nặng hơn, đe doạ tính mạng.

Ngã và biến chứng: Người bệnh Alzheimer có thể bị mất định hướng, tăng nguy cơ ngã. Ngã có thể dẫn tới gãy xương. Ngoài ra, ngã là nguyên nhân hay gặp nhất gây chấn thương sọ não nghiêm trọng, như chảy máu trong não. Phẫu thuật điều trị chấn thương do ngã cũng chứa đựng những nguy cơ. Thí dụ, bất động dài ngày –  cần thiết để phục hồi chấn thương liên quan tới ngã – làm tăng nguy cơ cục máu đông ở phổi (tắc mạch phổi) có thể đe doạ tới tính mạng.

Điều trị

Hiện chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer. Thuốc và chăm sóc là những biện pháp điều trị cơ bản.

Thuốc

Các thuốc hiện có để điều trị bệnh Alzheimer không thể chặn đứng hoặc đảo ngược tiến triển bệnh. Nhưng thuốc có thể làm chậm, giảm bớt các dấu hiệu và triệu chứng. Các thuốc thường được khuyến nghị cho bệnh nhân Alzheimer từ nhẹ tới vừa gồm:

Donepezil (Aricept): Thuốc này làm giảm triệu chứng bệnh Alzheimer từ nhẹ tới vừa nhờ cải thiện nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh trong não.

– Rivastigamin (Exelon): Giống như donepezil, rivastigamin ức chế sự giáng hóa của các chất dẫn truyền thần kinh trong não, làm giảm triệu chứng.

Galatamin (Reminyl): Galatamin là loại thuốc mới hơn để điều trị bệnh Alzheimer. Thuốc cải thiện cả ý thức và hành vi.

– Tacrin (Cognex) là một thuốc khác dùng điều trị bệnh Alzheimer từ nhẹ tới vừa. Tacrin có mặt trên thị trường từ năm 1993. Tuy nhiên, các bác sĩ hiếm khi kê đơn thuốc này vì những tác dụng phụ nghiêm trọng bao gồm cả tổn thương gan.

Tháng 10/2003, Cục Quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ phê chuẩn thuốc memantin (Namenda), thuốc duy nhất được chỉ định đặc trị bệnh Alzheimer giai đoạn từ vừa tới nặng. Memantin làm chậm quá trình suy giảm các kỹ năng sống hàng ngày, như mặc quần áo và đi vệ sinh. Thuốc bảo vệ tế bào não khỏi bị tổn thương do chất dẫn truyền thần kinh glutamat.

Đôi khi bác sĩ cũng kê đơn những thuốc này để cải thiện các triệu chứng hành vi thường đi kèm với bệnh Alzheimer gồm: mất ngủ, đi lang thang, lo âu, kích động và trầm cảm.

Ngày nay, việc điều trị bệnh Alzheimer vẫn còn rất non trẻ. Nhưng các nhà nghiên cứu tin tưởng rằng trong một tương lai không xa, sẽ có những loại thuốc mới để điều trị không chỉ các triệu chứng của bệnh. Các chuyên gia thuộc Bệnh viện Mayo đang tiếp tục nghiên cứu tạo ra giống chuột có triệu chứng giống bệnh Alzheimer. Nghiên cứu này hy vọng sẽ thúc đẩy việc nghiên cứu thuốc trì hoãn hoặc làm chậm tiến triển bệnh Alzheimer.

Chăm sóc

Cho tới khi có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, người bệnh sẽ cần được chăm sóc. Theo Hiệp hội Alzheimer, xấp xỉ 1/10 số gia đình có người bị bệnh Alzheimer. Trong số 4 triệu người bị bệnh Alzheimer ở Mỹ, đa số sống tại nhà – thường được chăm sóc một phần hoặc hoàn toàn bởi người thân trong gia đình.

Việc chăm sóc có thể là một thách thức. Sự suy sụp chậm chạp và không thể tiên đoán trước có thể kéo dài hơn một thập kỷ đòi hỏi người chăm sóc phải kiên nhẫn, hiểu biết, yêu thương và cả sáng tạo nữa.

Chìa khoá cho việc chăm sóc tập trung vào những gì mà bệnh nhân Alzheimer còn có thể làm và tận hưởng được. Trên thực tế, học hỏi những cách làm giảm tác động của sự suy giảm năng lực và những vấn đề hành vi có thể giúp tránh được một số khía cạnh khó nhất của bệnh.

Mỗi người bị bệnh Alzheimer có triệu chứng và tiến triển bệnh khác nhau. Do vậy, kỹ thuật chăm sóc cho từng người cũng khác nhau. Bạn có thể phải điều chỉnh những gợi ý sau cho phù hợp  với hoàn cảnh cụ thể của mình.

Dùng các biện pháp hỗ trợ trí nhớ: Hỗ trợ trí nhớ có thể giúp bạn bè hoặc người thân giữ được cuộc sống độc lập. Viết ra danh sách các hoạt động trong ngày, số điện thoại có thể sử dụng để gọi trợ giúp và hướng dẫn về cách làm những việc đơn giản như pha một tách trà hoặc sử  dụng điện thoại.

Xây dựng cấu trúc: Môi trường ở nhà đem lại sự bình yên và ổn định làm giảm các vấn đề hành vi. Các tình huống mới, tiếng ồn, đông người, bị thúc giục hoặc ép buộc phải nhớ, hoặc bị yêu cầu làm một việc quá khó có thể gây lo âu. Khi người bệnh Alzheimer bị bối rối thì khả năng tư duy sáng suốt thậm chí còn giảm hơn.

Theo dõi tình trạng đi lang thang: Đi lang thang là một vấn đề phổ biến. Trong một số trường hợp, thẻ bỏ túi với hướng dẫn đơn giản, như “Gọi tới số” (với số điện thoại bên dưới) có thể giúp ích. Đảm bảo rằng người thân của bạn có mang thẻ ghi tên, số điện thoại và một ghi chú như “Giảm trí nhớ”.  Cũng thử xác định nguyên nhân đi lang thang. Đó có thể đơn giản là dấu hiệu người bệnh Alzheimer đang tìm kiếm cái gì đó như nhà vệ sinh, tìm kiếm một hoạt động có ý nghĩa hoặc sự an ủi. Một số chuyên gia cho rằng đưa người thân đi dạo hàng ngày sẽ giúp làm giảm tình trạng đi lang thang.

Lập ra những nghi thức trước khi đi ngủ: Hành vi thường xấu đi vào ban đêm. Hãy thử thiết lập những nghi thức trước khi đi ngủ có tác dụng trấn tĩnh và tránh xa tiếng ồn của ti vi, dọn dẹp bát đĩa và những thành viên hiếu động trong gia đình. Để đèn ngủ để đề phòng tình trạng mất định hướng. Hạn chế cafein trong ngày, ngăn chặn tình trạng ngủ vào ban ngày và tạo ra những cơ hội để tập luyện trong ngày có thể giúp ngăn ngừa mất ngủ ban đêm.

Tăng cường giao tiếp: Khi nói chuyện với người thân, hãy đứng ở nơi bạn có thể nhìn thấy và chạm vào tay hoặc vai của người ấy để tập trung sự chú ý . Nói chậm rãi bằng những câu đơn giản và không thúc giục trả lời. Chỉ đưa ra một ý kiến hoặc chỉ dẫn một lần. Sử dụng điệu bộ và tín hiệu như chỉ vào đồ vật. Tránh hỏi nhiều câu hỏi hoặc đưa ra những lựa chọn khó vì việc cố tìm câu trả lời có thể dẫn đến sự chán nản.

Tạo môi trường an toàn: Làm cho ngôi nhà trở nên quen thuộc và an toàn. Giữ đồ đạc ở nguyên vị trí để tránh lộn xộn và giúp đề phòng ngã. Lắp khóa vào tủ để thuốc, rượu, súng, chất độc và những dụng cụ và đồ đạc nguy hiểm. Tháo các dụng cụ điện ra khỏi nhà vệ sinh để phòng điện giật. Đặt bình nước nóng ở nhiệt độ không quá 50oC để phòng ngừa bỏng, và lắp thanh vịn để phòng ngã.

– Khuyến khích luyện tập: Luyện tập thân thể mang lại nhiều lợi ích cho một số người bệnh Alzheimer. Việc những lợi ích này giống với lợi ích ở người không mắc bệnh Alzheimer không làm giảm tầm quan trọng của chúng. Trên thực tế, nó chỉ khiến cho việc luyện tập trở thành một hoạt động quan trọng hơn để cả người chăm sóc và người bệnh Alzheimer cùng tham gia. Lợi ích chính của luyện tập bao gồm cải thiện sức mạnh, sức bền và sức khoẻ tim mạch. Luyện tập cũng cải thiện sinh lực, giấc ngủ, tuần hoàn, sức bền và tâm trạng. Đối với người bệnh Alzheimer, luyện tập giúp duy trì kỹ năng vận động, đem lại cảm giác có ý nghĩa hoặc có mục đích, tạo ra tác dụng trấn tĩnh và duy trì sức mạnh, sự mềm dẻo và cân bằng làm giảm nguy cơ chấn thương nặng do ngã.

Ngoài việc giúp một số bệnh nhân Alzheimer đương đầu với những thách thức hàng ngày, các thành viên gia đình và những người thân cần bắt đầu thử và trả lời những câu hỏi dài ngày mang tính thực tế về việc chăm sóc càng sớm càng tốt. Những câu hỏi này có thể bao gồm các vấn đề về cá nhân, pháp lý và tài chính. Một số thí dụ gồm:
–  Liệu người bệnh Alzheimer có thể lái xe, làm việc hoặc sống một mình an toàn trong bao lâu?
–  Liệu gia đình hoặc bè bạn có thể đem lại sự chăm sóc cần thiết cho giai đoạn hiện nay và trong thời gian tiến triến bệnh sau này hay không?
–  Liệu có đủ tiền cho việc chăm sóc chuyên môn tại nhà hoặc cho cơ sở chăm sóc hiện nay hoặc trong tương lai nếu nảy sinh nhu cầu hay không?

Điều quan trọng đối với người bệnh Alzheimer, bác sĩ và gia đình họ là phải thảo luận sớm những vấn đề này. Nhìn chung, người bệnh Alzheimer cần được hỗ trợ để sống độc lập càng nhiều và càng an toàn càng tốt trong thời gian càng lâu càng tốt.

Phòng ngừa

Hiện giờ, chưa có cách phòng ngừa khởi phát bệnh Alzheimer. Nhưng các nhà nghiên cứu đang tiếp tục tìm kiếm những cách làm giảm nguy cơ bị bệnh. Một số hướng đi có hy vọng nhưng còn sơ khai gồm:

Thuốc chống viêm phi sterroid (NSAID): Một nghiên cứu công bố năm 1996 cho thấy ibuprofen (Advil, Motrin, nhiều thuốc khác), natri naproxen (Aleve) và indomethacin (Indocin) làm giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer. Các bác sĩ cho rằng viêm não là một phần trong diễn biến bệnh Alzheimer. Các nhà nghiên cứu không biết chính xác tại sao aspirin cũng là một thuốc chống viêm và acetaminophen (Tylenol, các tên khác) không phải là thuốc chống viêm lại không có tác dụng. NSAID có thể gây chảy máu dạ dày. Vì lý do này, các thử nghiệm lâm sàng cần được hoàn thành trước khi khẳng định liệu các bác sĩ có nên khuyên mọi người dùng NSAID thuần túy để phòng ngừa bệnh Alzheimer hay không?

– Vitamin E và selegilin: Các nhà khoa học đang nghiên cứu liệu vitamin E và selegilin (Eldepryl)-loại thuốc dùng điều trị bệnh Parkinson có tác dụng bảo vệ chống lại tiến triển của bệnh Alzheimer hay không? Những chất này có thể làm chậm tốc độ sa sút ở người bị bệnh Alzheimer khá nặng. Vitamin E và selegilin là những chất chống ôxy hoá và có thể giúp phòng ngừa tổn thương tế bào não nhờ phá hủy các gốc tự do gây độc. Gốc tự do là phụ phẩm của hoạt động tế bào bình thường. Một số nhà khoa học cho rằng gốc tự do là do tế bào miễn dịch nằm trong não sản sinh ra nhằm đáp ứng với tình trạng viêm não mạn tính do bệnh Alzheimer. Gốc tự do có thể gắn vào các phân tử ở tế bào não và cản trở chức năng tế bào não. Kết quả của thử nghiệm lâm sàng lớn duy nhất cho đến nay về các chất chống ôxy hóa này được công bố trên tạp chí New England Journal of Medicine số ra ngày 24/4/1997. Trong thử nghiệm, người bệnh Alzheimer mức độ vừa được dùng selegilin hoặc vitamin liều cao hoặc phối hợp cả 2, kết quả là tiến triển bệnh chậm lại 7 tháng

– Estrogen: Bệnh Alzheimer ở phụ nữ cao tuổi có thể liên quan đến thiếu hụt estrogen. Estrogen giúp giữ cho não khoẻ mạnh nhờ tăng cường sản sinh một chất dẫn truyền thần kinh chủ chốt, giúp ngăn ngừa mảng bám và cải thiện lưu lượng máu tới não. Nghiên cứu cho thấy liệu pháp thay thế hormon sau thời kỳ mãn kinh có thể làm giảm 40-50% nguy cơ mắc bệnh Alzheimer ở phụ nữ. Tuy nhiêm, kết quả của thử nghiệm dài nhất và lớn nhất cho đến nay về estrogen và phụ nữ mắc bệnh Alzheimer được công bố năm 2000 không thấy có sự khác biệt giữa phụ nữ có dùng và không dùng liệu pháp thay thế estrogen sau 1 năm. Một thử nghiệm nhỏ hơn cũng không cho thấy lợi ích của việc dùng estrogen để phòng ngừa bệnh Alzheimer. Vì tác động của estrogen còn chưa được chứng minh, phụ nữ không nên bắt đầu dùng liệu pháp thay thế hormon chỉ để phòng ngừa  bệnh Alzheimer mà không có sự đồng ý của bác sĩ.

– Sức khỏe tâm thần: Giữ gìn sức khỏe tâm thần có thể làm chậm khởi phát của sa sút trí tuệ. Một số các nhà nghiên cứu cho rằng luyện tập tinh thần và học tập suốt đời có thể thúc đẩy sự phát triển của các synap phụ, phần kết nối giữa các nơron, và làm chậm khởi phát của sa sút trí tuệ. Một số nhà nghiên cứu khác lập luận rằng học vấn cao cho người ta thêm kinh nghiệm về các loại tét trí nhớ và tư duy dùng  để đánh giá sa sút trí tuệ. Học vấn cao có thể chỉ đơn giản là giúp người bệnh “che giấu” bệnh của họ lâu hơn.

Kỹ năng đối phó

Người bệnh Alzheimer thường trải qua một hỗn hợp cảm xúc – nhầm lẫn, thất vọng, giận dữ, sợ hãi, bấp bênh, đau khổ và trầm cảm. Bạn có thể giúp người bệnh đối phó với bệnh tật bằng cách lắng nghe, an ủi người bệnh rằng cuộc đời vẫn đáng sống, mang lại tình yêu vô điều kiện và làm hết sức mình để giúp người bệnh giữ được giá trị và sự tự tôn.

Việc chăm sóc người bệnh Alzheimer có thể là một trải nghiệm về mọi mặt. Sự đòi hỏi về thể xác và tình cảm của việc chăm sóc có thể vắt kiệt sức lực của bạn. Cảm giác tức giận và dằn vặt, thất vọng và chán nản, lo lắng và đau khổ, cô lập với xã hội là rất hay gặp. Nếu bạn là người chăm sóc cho người bệnh Alzheimer, bạn có thể giúp chính mình và giúp ngăn ngừa tình trạng kiệt quệ của người chăm sóc bằng cách:

– Yêu cầu bạn bè hoặc các thành viên khác của gia đình giúp đỡ khi bạn cần.

– Chăm sóc sức khoẻ của chính bạn.

– Tìm hiểu càng nhiều về căn bệnh càng tốt. Hỏi ý kiến bác sĩ, những người làm công tác xã hội và những người khác có liên quan tới việc chăm sóc cho người thân của bạn.

– Tham gia vào nhóm hỗ trợ.

Thuốc bổ sung và thay thế

Một số thuốc thay thế có thể có lợi cho người bệnh Alzheimer. Tác dụng tăng cường não bộ của bạch quả đang tiếp tục được nghiên cứu ở cả người khoẻ mạnh và người bệnh Alzheimer. Tuy nhiên, cho đến nay, bạch quả chưa được chứng minh để cải thiện trí nhớ hoặc phòng ngừa bệnh Alzheimer.

Vitamin E, một chất chống ôxy hoá đang được nghiên cứu để điều trị bệnh Alzheimer, không cần phải kê đơn. Bạn có thể mua vitamin E không cần đơn của bác sĩ. Nhưng tốt nhất là nên dùng dưới sự giám sát của bác sĩ để theo dõi tác dụng phụ như chảy máu hoặc các rối loạn tiêu hóa.

Một số nghiên cứu thấy rằng liệu pháp hương liệu – sử dụng tinh dầu thực vật để thư giãn và tác động tới cơ thể – và xoa bóp có thể đóng vai trò hỗ trợ trong điều trị bệnh Alzheimer.

Theo cimsi.org.vn