<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Suckhoe365.net &#187; Thần kinh &#8211; Tâm thần</title>
	<atom:link href="http://suckhoe365.net/category/benh/than-kinh-tam-than/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://suckhoe365.net</link>
	<description>Vì sức khoẻ cộng đồng!</description>
	<lastBuildDate>Wed, 08 Feb 2012 08:30:13 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.3.1</generator>
		<item>
		<title>Liệt mặt</title>
		<link>http://suckhoe365.net/2012/01/li%e1%bb%87t-m%e1%ba%b7t/</link>
		<comments>http://suckhoe365.net/2012/01/li%e1%bb%87t-m%e1%ba%b7t/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 17 Jan 2012 01:30:06 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thần kinh - Tâm thần]]></category>
		<category><![CDATA[liệt dây thần kinh số 7]]></category>
		<category><![CDATA[Liệt mặt]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suckhoe365.net/?p=17530</guid>
		<description><![CDATA[Liệt mặt Đông y gọi là bệnh “Khẩu nhãn oa tà”, có nghĩa là miệng mắt méo lệch. Thường gặp Liệt mặt, hay còn gọi là liệt dây thần kinh số 7, phần lớn là do nhiễm lạnh, ngoài ra còn có thể do chấn thương hoặc nhiễm trùng. Đây là bệnh rất thường gặp [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div>
<p style="text-align: justify;"><em><strong>Liệt mặt Đông y gọi là bệnh “Khẩu nhãn oa tà”, có nghĩa là miệng mắt méo lệch.</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2012/01/liet-mat.jpg"><img class="aligncenter  wp-image-17531" title="liet mat" src="http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2012/01/liet-mat.jpg" alt="" width="489" height="372" /></a></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Thường gặp</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://suckhoe365.net/tag/li%E1%BB%87t-m%E1%BA%B7t/"><strong>Liệt mặt</strong></a>, hay còn gọi là liệt dây thần kinh số 7, phần lớn là do nhiễm lạnh, ngoài ra còn có thể do chấn thương hoặc nhiễm trùng. Đây là bệnh rất thường gặp và gây nhiều phiền toái, ảnh hưởng đến sức khỏe và thẩm mỹ, đặc biệt khi đã để lại di chứng liệt cứng.</p>
<p style="text-align: justify;">Thông thường, bệnh xảy ra rất đột ngột, người bệnh sau một đêm ngủ dậy đột nhiên khi đánh răng, hay ăn cơm thì nước và thức ăn chảy tràn ra ngoài, soi gương phát hiện khuôn mặt bị biến dạng lệch về một bên, đây chính là những dấu hiệu của bệnh. Ngoài những dấu hiệu trên, khi thổi sáo thường thấy rõ miệng bị lệch sang một bên và khi nhắm mắt vẫn có thể nhìn thấy mình trong gương do bên liệt mắt không nhắm kỹ lại được.</p>
<p style="text-align: justify;">Để xác định bên bị liệt, chỉ cần chú ý bên mặt bị lệch (là bên không bị liệt do các cơ không bị liệt kéo mạnh hơn). Rãnh nhân trung cũng bị kéo lệch về bên lành. Khi cười, nụ cười bị kéo xếch về bên lành. Rãnh mũi mép lằn sâu ở phía bên lành. Mắt bên lành nhỏ hơn so với bên liệt. Khi nhăn trán, các nếp nhăn ở trán bên lành lằn sâu hơn so với bên liệt. Nhìn kỹ thấy rõ rãnh nhân trung lệch về bên lành. Xác định rõ bên liệt để có thể bấm huyệt hoặc dán cao thuốc vào các huyệt bên liệt.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Phòng ngừa</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Khi bị bệnh, cần được chữa trị kịp thời và đúng cách, điều quan trọng là phải điều trị càng sớm càng tốt, nếu không bệnh có thể để lại di chứng liệt cứng, khi đó điều trị rất khó khăn.</p>
<p style="text-align: justify;">Phương pháp trị trong 3 tháng đầu có thể chữa tốt bằng xoa bóp, bấm huyệt, châm cứu, điện châm, thủy châm, cấy chỉ tự tiêu&#8230; Việc xoa bóp bấm huyệt để chữa liệt mặt, nếu được hướng dẫn, người bệnh có thể tự làm được. Tuy nhiên để bảo đảm có hiệu quả nhanh chóng và an toàn thì tốt nhất nên đến các thầy thuốc chuyên khoa. Ngoài ra, còn có các bài thuốc cổ truyền điều trị.</p>
<p style="text-align: justify;">Để phòng ngừa, cần tránh bị lạnh khi đi tàu xe, và nên đóng cửa sổ khi ngủ để tránh gió lùa. Người già ban đêm không nên ra ngoài đi tiểu; không để quạt, máy điều hòa thổi thẳng vào mặt khi ngủ. Khi bị liệt mặt, cần đến ngay bác sĩ chuyên khoa thần kinh để được chẩn đoán chính xác và loại trừ một số bệnh nguy hiểm khác cũng gây liệt mặt như tai biến mạch máu não, u não, chấn thương sọ não&#8230; Ngoài ra, cần điều trị sớm các chứng viêm nhiễm ở tai, mũi, họng. Để bảo vệ mặt bên liệt khỏi gió bụi và tránh biến chứng viêm loét giác mạc, cần đeo kính râm lót gạc sạch bên trong. Có thể dùng băng dính cắt theo hình chữ Y dán đảo ngược, một đầu vào trán, hai đầu kia vào môi dưới và môi trên để nâng cơ mặt khỏi bị sệ.</p>
<p style="text-align: right;"><em>Lương y Quốc Trung</em></p>
</div>
<p style="text-align: right;"><em>Nguồn: Báo Thanh Niên</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suckhoe365.net/2012/01/li%e1%bb%87t-m%e1%ba%b7t/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tìm hiểu bệnh tâm thần tình dục</title>
		<link>http://suckhoe365.net/2011/11/tim-hi%e1%bb%83u-b%e1%bb%87nh-tam-th%e1%ba%a7n-tinh-d%e1%bb%a5c/</link>
		<comments>http://suckhoe365.net/2011/11/tim-hi%e1%bb%83u-b%e1%bb%87nh-tam-th%e1%ba%a7n-tinh-d%e1%bb%a5c/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 28 Nov 2011 09:42:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thần kinh - Tâm thần]]></category>
		<category><![CDATA[Bệnh tâm thần tình dục]]></category>
		<category><![CDATA[giáo dục giới tính]]></category>
		<category><![CDATA[ham muốn]]></category>
		<category><![CDATA[tâm thần tình dục]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suckhoe365.net/?p=14712</guid>
		<description><![CDATA[Trẻ vị thành niên không phải lúc nào cũng gặp người tử tế, đặc biệt là ở các thành phố. Vì vậy, cha mẹ phải nói cho con nhớ rằng ngoài xã hội, phố xá có không ít người đáng sợ. Cần có những bài giảng kịp thời, những biện pháp ngăn chặn để con [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><em><strong>Trẻ vị thành niên không phải lúc nào cũng gặp người tử tế, đặc biệt là ở các thành phố. Vì vậy, cha mẹ phải nói cho con nhớ rằng ngoài xã hội, phố xá có không ít người đáng sợ. Cần có những bài giảng kịp thời, những biện pháp ngăn chặn để con cái không rơi vào tình huống nguy hiểm.</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;">Một người đàn ông bệnh hoạn thường chiếm đoạt các em gái bằng cách trước hết thỏa mãn những sở thích, mơ ước của em. Cha mẹ cần có thời gian giải trí với con, biết chắc con gái mình đang ở đâu, với ai hằng ngày và không nên mở rộng môi trường tiếp xúc của con. Đối với các con trai, chỉ cần nhắc nó đề phòng những người đàn ông có chứng đồng tính luyến ái.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2011/11/B%E1%BB%87nh-t%C3%A2m-th%E1%BA%A7n-t%C3%ACnh-d%E1%BB%A5c.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-14713" title="Bệnh tâm thần tình dục" src="http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2011/11/B%E1%BB%87nh-t%C3%A2m-th%E1%BA%A7n-t%C3%ACnh-d%E1%BB%A5c.jpg" alt="" width="450" height="338" /></a></p>
<p style="text-align: justify;">Có những người đàn ông mắc bệnh tâm thần sinh dục. Họ lên cơn cuồng dục và cởi truồng trước mặt mọi người. Bệnh này không nguy hiểm, nhưng không ai dám chắc là sự rối loạn tình dục của họ có thể phát triển, biến chứng theo chiều hướng nào. Trẻ em khi tiếp xúc với họ hoặc trực tiếp chứng kiến cảnh tượng đó thường bị một cú sốc nặng nề, đặc biệt là những em gái còn chưa có ý thức rõ rệt về sự khác nhau giữa bộ phận sinh dục nam và nữ.</p>
<p style="text-align: justify;">Phản ứng thông thường của trẻ em khi gặp trường hợp này là bỏ chạy. Nếu tin tưởng bố mẹ, lúc về nhà chúng sẽ kể lại. Bố mẹ cần giải thích cho con biết ngay rằng những người đàn ông đó lúc bé đã không được cha mẹ dạy dỗ tử tế, vì vậy họ không biết rằng làm điều đó trước đám đông là rất xấu. Đồng thời, cần khen con “Chạy đi như thế là rất đúng, những người thiếu giáo dục đó có thể làm hại con”… Vì lợi ích của trẻ, cần báo ngay cho cảnh sát để bắt giữ những người đàn ông đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguy hiểm nhất đối với trẻ em là loại đàn ông cưỡng nhi. Có những kẻ cưỡng nhi biệt tính (hay tìm cơ hội hiếp những em bé gái) và có kẻ cưỡng nhi đồng tính (những người đàn ông đồng tính luyến ái, chuyên tìm cơ hội giao tiếp với các em trai). Họ có thể tỏ ra là một người tốt bụng, rất mến trẻ con. Thậm chí nhiều bà mẹ tỏ ý thương hại rằng: Vì không chịu lấy vợ nên ông ta không có con; nếu không, ông ta sẽ là một người bố tuyệt vời. Các bà mẹ có thể thương hại ông ta rất lâu, cho tới ngày cô con gái nhỏ cho biết là ông ta hay sờ vào bẹn cháu. Nhiều em hoàn toàn không nói cho cha mẹ biết, vì nghĩ rằng tất cả những gì dính líu tới chuyện tình dục đều không hay ho gì, không đáng nói, hoặc vì em quá ngoan ngoãn và lịch sự. Cũng có thể em không nói vì vị nể, vì nghĩ rằng ông đang giúp em nhiều việc, thỏa mãn những sở thích của em.</p>
<p style="text-align: justify;">Phân biệt loại người này với những người đàn ông thực sự tốt bụng không phải là chuyện khó. Chỉ cần cha mẹ quan tâm chu đáo tới con, chú ý đến những người quan tâm quá mức tới con mình hoặc chỉ giúp đỡ riêng một em gái trong phòng, tránh sự tiếp xúc với cả nhóm. Phần lớn các em gái trong lần đầu tiên bị “giở trò” chỉ chịu đựng một cách thụ động. Lý do có thể là em còn chưa biết từ chối thế nào cho lịch sự, cũng có thể lúc đó em thấy có cảm giác thích thú thực sự. Những cảm giác tình dục đó sẽ ảnh hường nghiêm trọng tới quá trình phát triển tình dục của em sau này.</p>
<p style="text-align: justify;">Cần giải thích cho con hiểu rằng chỉ có cha mẹ mới âu yếm, mơn trớn con. Người lạ không biểu hiện tình cảm theo kiểu của bố mẹ. Biểu hiện kiểu ấy nếu có ở người lạ là không thực lòng, có thể che đậy một động cơ nào đó. Chúng ta cũng không nên quên rằng, khi con cái đến một độ tuổi nhất định thì cần hạn chế sự âu yếm giữa bố và con gái, giữa mẹ và con trai. Từ tuổi dậy thì trở đi, cha mẹ nên bộc lộ tình yêu thương con theo kiểu khác, phù hợp với lứa tuổi con. Điều này cần thiết ngay cả trong quan hệ giữa mẹ và con gái, bố và con trai. Chúng ta biết rõ rằng, nếu việc ngăn ngừa quan hệ tình dục giữa những người thân trong gia đình được tiến hành triệt để, nghiêm túc, thì tòa án lâu nay đã không phải giở đến những điều luật nghiêm khắc vốn đã có từ thời trung cổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Những kẻ đe dọa con cái chúng ta thường là người lạ, chưa một lần gặp mặt. Vì vậy khi chúng ta nhắc nhở, trẻ em nghe xong lại quên ngay. Tốt hơn cả là hãy đặt ra cho con những tình huống cụ thể, sinh động và đặt các câu hỏi: “Con sẽ làm gì nếu như… nếu như…”. Trẻ sẽ cố gắng tìm câu trả lời đúng. Chúng ta có thể vừa nghe vừa bổ sung, sửa chữa để trẻ có cách giải quyết đúng đắn nhất trong các tình huống cụ thể.</p>
<p style="text-align: justify;">Một số người có thể băn khoăn: Việc nhắc nhở, báo động với trẻ em như vậy phải chăng sẽ làm mất lòng tin của chúng đối với con người? Đừng lo, điều ấy không xảy ra nếu những lời dặn dò của chúng ta được cân nhắc một cách kỹ lưỡng. Cũng cần nhắc con là trẻ em cũng như người lớn đều có thể an toàn khi đứng giữa mọi người, dù là người lạ. Nếu bị đe dọa thì cần cho mọi người biết và có thể tìm được sự giúp đỡ của mọi người.</p>
<p style="text-align: justify;">Cần dặn các em tránh những nơi bí hiểm, hấp dẫn nhưng vắng vẻ. Từ trường về nhà, nếu thấy có người theo đuổi mình thì không nên chạy thẳng về nếu ở nhà không có ai. Trong trường hợp đó, tốt nhất là đi sang bên kia đường, tới những chỗ đông người như ngã ba, ngã tư, cửa hàng, cửa hiệu, nếu có các cô, các bà đang dắt trẻ thì nên bám theo. Các bà, các cô biết cách xử trí tình huống nguy hiểm có thể xảy ra với con mình nên cũng dễ dàng nhận ra tình huống của em bé lạ. Cũng chẳng có gì là xấu hổ nếu nói cho các bà, các cô ấy sự nghi ngờ của mình. Các bà mẹ có kinh nghiệm thường đeo chìa khóa vào cổ con (ý muốn nói rằng cha mẹ em hiện tại cũng không có nhà) hoặc ghi rõ địa chỉ của em trong cặp sách.</p>
<p style="text-align: justify;">Trẻ có thể gặp một người lạ nào đó nhờ xách hộ đồ về nhà cho mình. Vậy trẻ cần phải nhớ là không bao giờ được phép vào nhà người lạ, không được đi chơi xa nếu không có bạn bè đi cùng. Một người đàn ông chính trực sẽ hiểu ngay vì sao em bé rất ngoan nhưng lại không muốn vào nhà mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Các em trai đang lớn cần được thông báo về hiện tượng đồng tính luyến ái. Các em sẽ bị tổn thương trong đời sống tâm hồn khi phải đột ngột nếm trải một cái gì đó mình không hiểu, không quan niệm nổi như sự giao tiếp tình dục đồng tính. Khi lâm vào hoàn cảnh này, các cậu bé khó mà phản ứng lại một cách đúng đắn, hợp lý. Đã có trường hợp một cậu học sinh đánh chết người đồng tính luyến ái vì tưởng anh ta hãm hại mình. Vì vậy, một thiếu niên lịch sự nhất cũng phải biết rằng, phải cự tuyệt tất cả mọi ý đồ đồng tính luyến ái, bất chấp người đó là ai.</p>
<p style="text-align: justify;">Những hành vi tình dục xấu xa và phạm pháp không phải chỉ do các căn bệnh tình dục và không phải chỉ đe dọa trẻ em. Vì vậy, việc nhắc nhở còn rất cần thiết đối với tất cả những người đã trưởng thành. Chúng tôi có thể đưa ra đây một ví dụ:</p>
<p style="text-align: justify;">Một thanh niên 19 tuổi ra tòa mà vẫn không biết mình có tội gì. Cô gái mà anh ta yêu đã kiện anh. Theo cách nói lâu nay, cô thuộc loại con gái “dễ bảo”. Anh và cô thường đi chơi với nhau buổi tối, uống chút bia, chung chiếc kẹo và nói chung, cùng nhau giải trí rất vui vẻ. Một hôm, khi hai người trên đường từ sàn nhảy trở về, anh hôn, vuốt ve, âu yếm cô và cô không hề phản đối. Nhưng rồi cô chống cự quyết liệt ý định giao hợp của anh.</p>
<p style="text-align: justify;">“Thế là tôi nổi giận, còn bây giờ tôi không thèm nhìn mặt cô ta nữa”, anh ta phàn nàn với chúng tôi, “Cô ấy đi với tôi suốt cả buổi tối, để tôi chi phí mọi khoản, lại còn thỉnh thoảng ôm hôn tôi, thế mà đột nhiên lại làm bộ làm tịch. Quả thực tôi có tốc váy cô ấy thật, nhưng mà người tôi cũng thâm tím mình mẩy chẳng khác gì cô ta… Tại sao cô ấy lại đóng kịch như vậy? Thật không hiểu nổi!…”</p>
<p style="text-align: justify;">Câu chuyện như trên, đáng tiếc, không phải là trường hợp đặc biệt, mỗi năm có hàng trăm vụ. Người ta hay nháy nhau: Nếu người phụ nữ trả lời là “không” thì thực ra bụng cô ta muốn nói là “được”. Còn khi cô ta bảo “được” thì… Rất nhiều người đàn ông nghĩ rằng khi người đàn bà cự tuyệt anh thì thực ra trong thâm tâm cô ta muốn anh chiếm đoạt. Với lối nghĩ như vậy, cộng thêm một vài ly rượu nữa thì hai phần ba các giao tiếp tình dục thực chất là cưỡng dâm. Những quy ước xã hội bị phá bỏ, anh ta sẽ hành động như một con vật, tiến hành giao tiếp tình dục bất chấp nguyện vọng của bạn gái mình.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước những hành động như vậy, xã hội không thể tha thứ. Tòa án không thể cảm thông với lối giải thích kiểu: “Cả hai chúng tôi đều uống say”, “Tôi nghĩ chuyện ấy chẳng có gì quan trọng”, “Ai cũng biết cô ấy là người dễ tính”… Xã hội được thiết lập trên những mối quan hệ qua lại tốt đẹp giữa người và người, dựa trên cơ sở tình bạn, tình yêu. Những nguyên tắc đạo đức ngăn chặn hành vi bạo lực của người này đối với người khác không phải là một sự áp đặt hay từ trên trời rơi xuống. Chúng là yêu cầu khách quan của sự tồn tại xã hội, được kế thừa qua nhiều thời đại, được giảng giải từ thế hệ này qua thế hệ khác. Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn những kẻ cưỡng dâm thường xuất thân từ các gia đình không quan tâm tới giáo dục, hoặc cha mẹ không giáo dục con cái chu đáo. Tất nhiên không phải tất cả trẻ em lớn lên từ những gia đình “thiếu trên dưới” đều trở thành thủ phạm. Chúng tôi từng tham gia xét hỏi một phạm nhân xuất thân từ gia đình rất tử tế, gia giáo, nhiều kẻ cưỡng dâm là thanh niên thông minh, có học, thậm chí tốt nghiệp đại học hẳn hoi. Thì ra, chỉ cần vài chén rượu là tấm mạng che mỏng manh của sự phong nhã, lịch thiệp tụt xuống, chỉ còn lại sự trơ trẽn, nông nổi của bản năng nhục dục, sự thiếu tôn trọng đồng loại và tính ích kỷ của loài thú.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở đây chúng tôi muốn nhắc nhở các cô gái. Không phải ngẫu nhiên mà nạn nhân của các vụ cưỡng hiếp phần lớn là các cô dưới tuổi 25, 26. Lý do đầu tiên là sức hấp dẫn tình dục của tuổi trẻ. Từ 30 tuổi, sức hấp dẫn tình dục của phụ nữ yếu dần, thu hẹp vào phạm vi cư xử và chỉ bộc lộ khi đã có sự tiếp xúc lâu dài. Ngoài ra, các cô dưới tuổi 25 lại hay xem thường những mối nguy hiểm có thể xảy ra. Rất nhiều cô gái trẻ coi việc tiếp xúc, quan hệ với đàn ông như một trò chơi tiêu khiển. Họ thích nghe những câu nịnh hót, thích được yêu và thích đàn ông thèm khát mình. Họ có thể không cự tuyệt chuyện hôn hít, và không cho phép đi xa hơn chuyện hôn. Nhưng gã đàn ông lại hiểu rất hay sai và cố tình hiểu sai thái độ của cô gái trẻ. Thế là cô phải làm một cái gì đó mới có thể yên lành mà về nhà. Những tình huống như vậy thật khó khăn, có cô vượt qua được, có cô không.</p>
<p style="text-align: justify;">Với một số cô gái, kiểu con trai mạnh mẽ, “hổ mang” một chút lại rất hấp dẫn. Những chàng trai này có thể làm cho các cô gái mê mệt bằng cách luôn tỏ ra mình sống bên trên những qui ước đạo lý, pháp luật… Vì các cậu chưa có đủ khả năng làm chủ cảm giác tình dục chân chính nên dễ trở thành người đi sưu tầm những ấn tượng tình dục ngẫu nhiên. Tuy nhiên, một tay sành sỏi có thể chiếm đoạt được các cô gái thiếu kinh nghiệm nhanh hơn, dễ dàng hơn so với một thanh niên đứng đắn, biết nghĩ. Đây là mối lo lớn của các bậc cha mẹ. Các cô gái (chủ yếu ở quãng tuổi 16) dễ rơi vào tay lũ bợm. Vì vậy, cha mẹ phải nhắc nhở con gái thật sớm, trước khi mối nguy hiểm rập rình tới. Phải cho các cô hiểu về giá trị đích thực trong con người, quan hệ giữa đàn ông và đàn bà, chàng trai và cô gái.</p>
<p style="text-align: right;"><em>(theo ykhoa)</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suckhoe365.net/2011/11/tim-hi%e1%bb%83u-b%e1%bb%87nh-tam-th%e1%ba%a7n-tinh-d%e1%bb%a5c/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bệnh tâm thần tình dục</title>
		<link>http://suckhoe365.net/2011/11/b%e1%bb%87nh-tam-th%e1%ba%a7n-tinh-d%e1%bb%a5c/</link>
		<comments>http://suckhoe365.net/2011/11/b%e1%bb%87nh-tam-th%e1%ba%a7n-tinh-d%e1%bb%a5c/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 28 Nov 2011 09:34:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thần kinh - Tâm thần]]></category>
		<category><![CDATA[Bệnh tâm thần tình dục]]></category>
		<category><![CDATA[lệch lạc tình dục]]></category>
		<category><![CDATA[rối loạn hormon]]></category>
		<category><![CDATA[tâm thần tình dục]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suckhoe365.net/?p=14709</guid>
		<description><![CDATA[Hoạt động tình dục là một nhu cầu sinh học quan trọng. Tuy nhiên, sẽ thế nào nếu nhu cầu ấy gây nghiện cho con người trong cuộc sống? ngoài ra còn có những dạng lệch lạc tình dục (LLTD) ít phổ biến hơn  như: loạn dục bạo dâm, khổ dâm, loạn dục giả trang [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><em><strong>Hoạt động tình dục là một nhu cầu sinh học quan trọng. Tuy nhiên, sẽ thế nào nếu nhu cầu ấy gây nghiện cho con người trong cuộc sống? ngoài ra còn có những dạng lệch lạc tình dục (LLTD) ít phổ biến hơn  như: loạn dục bạo dâm, khổ dâm, loạn dục giả trang khác giới, loạn dục với xác chết, loạn dục với thú vật&#8230; Thực sự, những trường hợp bị lệch lạc tình dục là những dạng bệnh tâm thần và đôi khi gây những ảnh hưởng làm xáo trộn xã hội.</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Những biểu hiện lệch lạc tình dục</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Có những người đàn ông mắc bệnh tâm thần tình dục, họ lên cơn cuồng dục và phơi bày phần nhạy cảm  trước mặt mọi người. Hầu hết những ai không may chứng kiến đều cảm thấy ghê sợ, muốn né tránh và xua đi những ký ức không hề dễ chịu ấy, đặc biệt là những em gái còn chưa có ý thức rõ rệt về sự khác nhau giữa bộ phận sinh dục nam và nữ thường rất xấu hổ, ngượng ngùng, lúng túng. Phản ứng thông thường của trẻ em khi gặp trường hợp này là bỏ chạy. Theo một nghiên cứu ở Mỹ, có tới 20% phụ nữ đã từng bị nhìn trộm hoặc là đối tượng của chứng loạn dục phô bày; 20% trẻ em bị quấy rồi tình dục dưới nhiều hình thức do những kẻ bị LLTD. Mặt khác, 74% số người bị LLTD có rối loạn hormon, 27% có dấu hiệu tổn thương thần kinh, 24% có rối loạn gen (Chromosom).  Ngoài xã hội, phố xá có thể gặp những trường hợp đáng sợ, họ là những nam giới có vấn đề về tâm thần tình dục. Nguy hiểm nhất đối với trẻ em là loại đàn ông cưỡng nhi. Có những kẻ cưỡng nhi biệt tính (hay tìm cơ hội hãm hại những em bé gái) và có kẻ cưỡng nhi đồng tính (những người đàn ông đồng tính luyến ái, chuyên tìm cơ hội giao tiếp với các em trai). Một người đàn ông bệnh hoạn thường chiếm đoạt các em gái bằng cách trước hết thỏa mãn những sở thích, ước muốn của em. Họ có thể tỏ ra là một người tốt bụng, rất mến trẻ con. Cho tới một ngày cô con gái nhỏ cho biết là ông ta hay sờ mó vào những nơi nhạy cảm của cháu. Sẽ là nguy hiểm khi nhiều em không nói cho cha mẹ biết, vì nghĩ rằng tất cả những gì dính líu tới chuyện tình dục đều không hay ho gì, là xấu hổ không dám nói, hoặc vì sợ hãi, hay bị khống chế. Cũng có thể em không nói vì vị nể, vì nghĩ rằng ông đang giúp em nhiều việc, thỏa mãn những sở thích của các em. Ngoài ra trong phòng the chúng ta có thể gặp những đôi vợ chồng tự hành hạ mình, hành hạ bạn tình trong lúc quan hệ tình dục nhằm tìm kiếm khoái cảm&#8230;</p>
<div style="text-align: justify;" align="center">
<table cellspacing="5" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td align="center">
<div>
<div><a href="http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2011/11/B%E1%BB%87nh-t%C3%A2m-th%E1%BA%A7n-t%C3%ACnh-d%E1%BB%A5c2.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-14710" title="Bệnh tâm thần tình dục2" src="http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2011/11/B%E1%BB%87nh-t%C3%A2m-th%E1%BA%A7n-t%C3%ACnh-d%E1%BB%A5c2.jpg" alt="" width="400" height="399" /></a> Có những cặp vợ chồng tự hành hạ mình trong khi quan hệ tình dục.</div>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</div>
<p style="text-align: justify;"><strong>Nguyên nhân gây bệnh LLTD</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nguyên nhân gây nên tình trạng LLTD thường do rối loạn quá trình phát triển tâm lý trong thời thơ ấu hay trẻ đã từng bị lạm dụng tình dục trong thời thơ ấu hoặc trẻ bắt chước hành vi lệch lạc này từ người lớn từ phim ảnh. Ngoài ra, trong một số trường hợp người ta thấy có các bất thường về hormon, nhiễm sắc thể&#8230; Cũng nghiên cứu ở Mỹ cho thấy 74% số người bị lệch lạc tình dục có rối loạn hormon, 27% có dấu hiệu tổn thương thần kinh, 24% có rối loạn gen.</p>
<p style="text-align: justify;">Lệch lạc hành vi tình dục là một dạng bệnh tâm thần khá phức tạp. Những bệnh nhân gây nên những hành vi này có lẽ bị xã hội lên án và xa lánh nhiều nhất trong số các bệnh nhân tâm thần. Ở những người bị loạn dục với trẻ em thường có khuynh hướng tình dục mãnh liệt với trẻ em dưới 13 tuổi và lặp đi lặp lại. Trong số những người có vấn đề loạn dục với trẻ em thì 95% là thích sinh hoạt tình dục khác giới, 50% có uống rượu quá mức lúc thực hiện hành vi tình dục.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giúp bệnh nhân kiểm soát hành vi tình dục</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Việc điều trị lệch lạc tình dục chủ yếu là tâm lý liệu pháp và phối hợp với thuốc khi cần thiết. Với liệu pháp phân tâm, thầy thuốc sẽ giúp người bệnh hiểu được các động lực và hoàn cảnh gây ra bệnh. Đặc biệt là giúp bệnh nhân nhận thức được các sự kiện hằng ngày nào gây kích thích, tác động khiến họ thực hiện các xung động. Phương pháp điều trị này cũng giúp họ lấy lại sự tự tin, cải thiện kỹ năng giao tiếp xã hội và dùng các liệu pháp hành vi để giúp đương sự cắt đứt các hành vi lệch lạc tình dục. Ngoài ra, thầy thuốc còn dùng thêm các loại thuốc chống loạn thần và chống trầm cảm để điều trị các bệnh lý tâm thần kết hợp như tâm thần phân liệt, rối loạn trầm cảm hoặc các thuốc chống lại tình trạng gia tăng hoạt động tình dục quá mức mà vượt quá khả năng kiểm soát của người bệnh. Có hai thái cực đối nghịch của hiện tượng LLTD. Nó có thể bùng phát ở một xã hội lạc hậu, yếu kém về giáo dục giới tính, đồng thời có thể diễn biến rất phức tạp ở một xã hội phát triển hiện đại, thoải mái về vấn đề tình dục. Tuy nhiên, ngay cả với một người mang gen bệnh LLTD, nếu được sinh ra, lớn lên trong một môi trường xã hội lành mạnh thì người đó vẫn có cơ hội trở thành con người lành mạnh.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Hạn chế hậu quả do LLTD gây ra với xã hội</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Cần có những giảng giải kịp thời, những biện pháp ngăn chặn để con cái không rơi vào tình huống nguy hiểm. Cha mẹ cần có thời gian gần gũi với con, biết chắc con gái mình đang ở đâu, với ai hàng ngày và không nên mở rộng môi trường tiếp xúc của con. Đối với các con trai, chỉ cần nhắc nó đề phòng những người đàn ông có chứng đồng tính luyến ái. Bố mẹ cần giải thích cho con biết ngay rằng những người đàn ông đó lúc bé đã không được cha mẹ dạy dỗ tử tế, vì vậy họ không biết rằng làm điều đó trước đám đông là rất xấu. Cha mẹ cần quan tâm chu đáo tới con, chú ý đến những người gần gũi quá mức với con mình hoặc chỉ quan tâm giúp đỡ riêng một em gái nhất là ở những nơi kín đáo. Phần lớn các em gái trong lần đầu tiên bị “giở trò” chỉ chịu đựng một cách thụ động. Lý do là em còn thiếu kỹ năng sống, chưa biết từ chối bằng cách  nào, phản ứng ở mức độ nào, làm thế nào để thoát khỏi tình huống nguy hiểm. Tuy nhiên cũng có thể có em thấy cảm giác thích thú thực sự,  đa số những cảm giác  đó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới quá trình phát triển tình dục của em sau này. Cần giải thích cho con hiểu rằng chỉ có cha mẹ mới âu yếm, mơn trớn con, người lạ không biểu hiện tình cảm theo kiểu của bố mẹ. Biểu hiện kiểu ấy nếu có ở người lạ là không thực lòng, có thể che đậy một động cơ nào đó. Từ tuổi dậy thì trở đi, cha mẹ nên bộc lộ tình yêu thương con theo kiểu khác, phù hợp với lứa tuổi con, điều này cần thiết ngay cả trong quan hệ giữa mẹ và con gái, bố và con trai.</p>
<p style="text-align: justify;">Những hành vi tình dục xấu xa và phạm pháp không phải chỉ đe dọa trẻ em, vì vậy, việc nhắc nhở còn rất cần thiết đối với tất cả những người đã trưởng thành.</p>
<p style="text-align: justify;">Xã hội được thiết lập trên những mối quan hệ qua lại tốt đẹp giữa người và người, dựa trên cơ sở tình bạn, tình yêu. Những nguyên tắc đạo đức ngăn chặn hành vi bạo lực của người này đối với người khác không phải là một sự áp đặt hay tự nhiên mà có. Chúng là yêu cầu khách quan của sự tồn tại xã hội, được kế thừa qua nhiều thời đại, được giảng giải từ thế hệ này qua thế hệ khác. Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn những kẻ cưỡng dâm thường xuất thân từ các gia đình không quan tâm tới giáo dục, hoặc cha mẹ không giáo dục con cái chu đáo. Tất nhiên không phải tất cả trẻ em lớn lên từ những gia đình “thiếu trên dưới” đều trở thành thủ phạm. Nhiều kẻ cưỡng dâm là thanh niên thông minh, xuất thân từ gia đình rất tử tế, gia giáo có học, thậm chí tốt nghiệp đại học hẳn hoi. Tuy chưa có nghiên cứu cụ thể về tình trạng LLTD ở Việt Nam, nhưng không thể phủ nhận, luôn có một bộ phận nhỏ người bị bệnh lý LLTD trong xã hội. LLTD có thể do bẩm sinh và tương đối khó chữa khỏi hoàn toàn, nhưng có thể can thiệp, giúp đỡ để người bị LLTD không có những hành động gây nguy hại cho bản thân, không vi phạm pháp luật và không gây kinh hoàng, phẫn nộ cho những người xung quanh.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước quá nhiều nguồn thông tin đa chiều có thể va đập vào mỗi cá thể trong xã hội ngày nay, cần nhấn mạnh tới vai trò của nền tảng giáo dục gia đình. Sẽ có quá nhiều vấn đề phức tạp nếu chúng ta bàn tới chuyện ngăn chặn sự LLTD, đồng thời chúng ta phải chấp nhận chung sống hoà bình với LLTD như một sự không hoàn hảo cố nhiên của tạo hoá; nhưng có một điều chắc chắn, nền tảng giáo dục vững chắc mới giúp chúng ta chống đỡ lại những cái xấu đang hiện hữu trong xã hội hiện đại.</p>
<p style="text-align: right;" align="right">BS. Vũ Thành &#8211; Theo suckhoedoisong</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suckhoe365.net/2011/11/b%e1%bb%87nh-tam-th%e1%ba%a7n-tinh-d%e1%bb%a5c/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bệnh suy giảm trí nhớ ở người trẻ</title>
		<link>http://suckhoe365.net/2011/11/b%e1%bb%87nh-suy-gi%e1%ba%a3m-tri-nh%e1%bb%9b-%e1%bb%9f-ng%c6%b0%e1%bb%9di-tr%e1%ba%bb/</link>
		<comments>http://suckhoe365.net/2011/11/b%e1%bb%87nh-suy-gi%e1%ba%a3m-tri-nh%e1%bb%9b-%e1%bb%9f-ng%c6%b0%e1%bb%9di-tr%e1%ba%bb/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 28 Nov 2011 03:58:59 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thần kinh - Tâm thần]]></category>
		<category><![CDATA[giảm trí nhớ]]></category>
		<category><![CDATA[người trẻ]]></category>
		<category><![CDATA[rối loạn trầm cảm]]></category>
		<category><![CDATA[stress]]></category>
		<category><![CDATA[suy giảm]]></category>
		<category><![CDATA[trí nhớ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suckhoe365.net/?p=14661</guid>
		<description><![CDATA[Chuyện lúc nhớ, lúc quên ngày nay không còn là “thuộc tính” của người già, theo BS Trần Công Thắng &#8211; chuyên khoa Thần kinh (BV ĐH Y Dược TP.HCM), hiện có khoảng 20 &#8211; 30% người trẻ tuổi gặp các vấn đề về trí nhớ. Thế nhưng, nhiều người đang xem chuyện hôm nay [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: justify;"><strong>Chuyện lúc nhớ, lúc quên ngày nay không còn là “thuộc tính” của người già, theo BS Trần Công Thắng &#8211; chuyên khoa Thần kinh (BV ĐH Y Dược TP.HCM), hiện có khoảng 20 &#8211; 30% người trẻ tuổi gặp các vấn đề về trí nhớ. </strong></div>
<div style="text-align: center;">
<img src="http://danong.com/Data/News/2011/11/27/sb10069600g-001.jpg" alt="" /></p>
</div>
<div style="text-align: justify;">Thế nhưng, nhiều người đang xem chuyện hôm nay quên một việc, hôm sau quên hai việc là điều bình thường, trong khi đó, đây chính là dấu hiệu của chứng suy giảm trí nhớ.</p>
<p><strong>Dễ quên ký ức gần</strong></p>
<p>Bước đầu tiên của quá trình hình thành trí nhớ là thông tin được ghi nhận thông qua những giác quan, ví dụ như hình ảnh ghi nhận bằng mắt, tai nghe âm thanh… Thông tin được mã hóa, lưu trữ trong não. Sau đó, khi người sử dụng cần bất cứ thông tin nào, não sẽ giúp “truy xuất” từ kho lưu trữ này.</p>
<p>BS Thắng cho biết: “Ở người trẻ, giảm trí nhớ thường liên quan nhiều đến quá trình ghi nhận. Con người ngày nay có hàng ngàn việc để nhớ, kèm theo áp lực công việc gây ra nhức đầu, đau nhức vai cổ, mất ngủ, stress… Hậu quả của một hoặc tất cả nguyên nhân trên làm cho độ tập trung kém đi và “khổ chủ” không nhớ những chuyện đã xảy ra xung quanh. Ngoài ra, sự ghi nhận thông tin kém còn có thể do một số bệnh lý như cận thị, khi tầm nhìn bị mờ ảo và có giới hạn. Hoặc khi ghi nhận rồi, quá trình lưu trữ lại bị trục trặc do những sang chấn trong cuộc sống làm tổn thương não như nghiện rượu, chấn thương sọ não”.</p>
<p>Chính vì vậy, việc giảm trí nhớ ở người trẻ thường là giảm trí nhớ gần, mới xảy ra hay còn gọi là trí nhớ công việc. Nhiều bệnh nhân thường than phiền với BS rằng, ra khỏi nhà một lúc lại băn khoăn không biết đã đóng cửa sổ chưa, tắt bếp ga, tắt máy tính chưa… Tại Phòng khám Trí nhớ, BV ĐH Y Dược TP.HCM, không ít bệnh nhân trẻ tuổi cho biết, họ rất hay quên. Ví dụ, đang tính làm một việc gì đó, quay qua quay lại một lúc sau đã quên bẵng mình đang muốn làm gì; để đồ ở đâu tìm không ra… Các chuyên gia y tế cho rằng, đây có thể là hiện tượng của người bắt đầu bước vào giai đoạn stress hoặc rối loạn trầm cảm. Bản chất của trầm cảm là khiến người bệnh thờ ơ, không chú ý đến xung quanh, giảm sự quan sát, có cảm giác mất năng lực trong cuộc sống. Do đó, bệnh nhân trầm cảm không buồn để ý đến bất cứ thứ gì, và đương nhiên sẽ không nhớ.</p>
<p>Bên cạnh đó, việc suy giảm trí nhớ của người trẻ còn do việc lạm dụng các loại thuốc như thuốc ngủ, thuốc chống trầm cảm thế hệ cũ Amitryptilin, một số thuốc chữa động kinh cho trẻ em, nhóm thuốc corticoid (nhất là ở bệnh nhân hen suyễn). Ngoài ra, có những dạng không phải là bệnh lý giảm trí nhớ mà người ta gọi là tật đãng trí. Đó là những người làm gì cũng nhanh, nói nhanh trong một khoảng thời gian ngắn… dẫn đến thông tin vào não nhiều quá, không thể kiểm soát nổi. Nhưng những hiện tượng này không tăng lên theo thời gian.<br />
<strong><br />
<a href="http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2011/11/B%E1%BB%87nh-suy-gi%E1%BA%A3m-tr%C3%AD-nh%E1%BB%9B-%E1%BB%9F-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-tr%E1%BA%BB1.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-14663" title="Bệnh suy giảm trí nhớ ở người trẻ" src="http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2011/11/B%E1%BB%87nh-suy-gi%E1%BA%A3m-tr%C3%AD-nh%E1%BB%9B-%E1%BB%9F-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-tr%E1%BA%BB1.jpg" alt="" width="400" height="300" /></a><br />
Tăng trí nhớ: thu xếp gọn gàng cuộc sống </strong></p>
<p>BS Thắng khuyến cáo: “Khi bắt đầu có những rối loạn về trí nhớ gần, người bệnh cần phải xác định được đó là biểu hiện bình thường hay bệnh lý. Biểu hiện bình thường nếu chỉ thỉnh thoảng mới quên. Suy giảm trí nhớ trở nên nặng hơn nếu việc quên này trở thành quên hoàn toàn, ngay cả khi được gợi nhớ. Ví dụ, bạn ngỏ ý mượn cuốn sách hôm trước, hôm sau nhìn thấy mặt bạn, người đó vẫn không nhớ ra việc được hỏi mượn sách… Việc bị quên ngày càng tăng lên nhiều hơn, ảnh hưởng đến chất lượng công việc và cuộc sống, người bệnh phải đi tham vấn, kiểm tra tại các phòng khám trí nhớ ở các BV. Tại đây, các chuyên gia sẽ xác định, sự giảm trí nhớ này là lành tính hay bệnh lý, suy giảm nhận thức nhẹ hay sa sút trí tuệ. Sa sút trí tuệ ở người trẻ (40 &#8211; 60 tuổi) có thể do các tổn thương não vì tai nạn giao thông, hoặc do một số thể bệnh Alzheimer có tính chất gia đình hoặc do đột biến gien; hay sa sút trí tuệ do tai biến mạch máu não hoặc nghiện rượu”.</p>
<p>Để duy trì trí nhớ, đầu tiên chúng ta phải loại bỏ những yếu tố nguy cơ gây ra chuyện “quên” bằng cách thu xếp công việc ngăn nắp, tránh căng thẳng stress, hạn chế tối đa hút thuốc lá và uống rượu. Đặc biệt, rượu có thể gây ảnh hưởng đến trí nhớ rất nhiều. Khi có những biểu hiện mệt mỏi, đau nhức mình mẩy, đau đầu mất ngủ…, bệnh nhân phải đi khám để điều trị căn nguyên. Tập thể dục thường xuyên cũng là một trong những phương cách cải thiện trí nhớ. Đây là cách hữu hiệu với những bệnh nhân bị suy giảm trí nhớ, kể cả trẻ em và người lớn gặp vấn đề về khả năng tập trung, những người bị khiếm khuyết năng lực học tập và các nạn nhân của chấn thương sọ não hoặc đột quỵ. Những người trẻ cũng phải tập luyện khả năng ghi nhớ bằng cách tăng cường quan sát, ghi nhận: quan sát các đồ vật xung quanh bằng mắt, dùng trí tưởng tượng để liên hệ, so sánh, ghi chép những việc cần làm…</p>
<div style="text-align: right;"><em>Theo PNCT</em></div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suckhoe365.net/2011/11/b%e1%bb%87nh-suy-gi%e1%ba%a3m-tri-nh%e1%bb%9b-%e1%bb%9f-ng%c6%b0%e1%bb%9di-tr%e1%ba%bb/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đau thần kinh tọa: Hậu quả của nhiều bệnh</title>
		<link>http://suckhoe365.net/2011/11/dau-th%e1%ba%a7n-kinh-t%e1%bb%8da-h%e1%ba%adu-qu%e1%ba%a3-c%e1%bb%a7a-nhi%e1%bb%81u-b%e1%bb%87nh/</link>
		<comments>http://suckhoe365.net/2011/11/dau-th%e1%ba%a7n-kinh-t%e1%bb%8da-h%e1%ba%adu-qu%e1%ba%a3-c%e1%bb%a7a-nhi%e1%bb%81u-b%e1%bb%87nh/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 25 Nov 2011 03:54:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thần kinh - Tâm thần]]></category>
		<category><![CDATA[chèn ép thần kinh]]></category>
		<category><![CDATA[thoát vị đĩa đệm]]></category>
		<category><![CDATA[tổn thương]]></category>
		<category><![CDATA[đau thần kinh tọa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suckhoe365.net/?p=14378</guid>
		<description><![CDATA[Thần kinh tọa còn gọi là thần kinh hông to là dây thần kinh lớn nhất cơ thể đi từ thắt lưng mông xuống mặt sau đùi và cẳng chân. Bệnh đau thần kinh tọa gặp ở nam nhiều hơn nữ và thường ở lứa tuổi từ 30-50. Ðau dây thần kinh tọa do tổn [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><em><strong>Thần kinh tọa còn gọi là thần kinh hông to là dây thần kinh lớn nhất cơ thể đi từ thắt lưng mông xuống mặt sau đùi và cẳng chân. Bệnh đau thần kinh tọa gặp ở nam nhiều hơn nữ và thường ở lứa tuổi từ 30-50. Ðau dây thần kinh tọa do tổn thương rễ chiếm 90-95%, số còn lại là do tổn thương dây và đám rối thần kinh.</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Những bệnh dẫn đến đau thần kinh tọa</strong></p>
<div style="text-align: justify;">Các nghiên cứu cho thấy có nhiều bệnh dẫn đến đau thần kinh tọa, gồm hai nhóm: các bệnh toàn thân và những tổn thương tại chỗ. Các bệnh toàn thân gây đau thần kinh tọa thường gặp là: cúm, thấp tim, thương hàn, sốt rét, giang mai giai đoạn III, lậu… Nhóm bệnh tại chỗ dẫn đến đau thần kinh tọa gồm: thoát vị đĩa đệm hay gặp ở người trẻ, đang độ tuổi lao động, bị thoát vị đĩa đệm cấp tính sau các động tác gắng sức mạnh, không đúng tư thế của cột sống như cúi xuống nâng vật nặng sai tư thế, cử động đột ngột của thân&#8230;</div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;" align="center">
<table cellspacing="5" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td align="center">
<div>
<div><img src="http://img.suckhoedoisong.vn/Images/Uploaded/Share/2011/11/24/h3converted.jpg" alt="" width="350" /></div>
</div>
<div> Thoát vị đĩa đệm gây chèn ép thần kinh &#8211; một nguyên nhân gây đau thần kinh tọa.</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</div>
<div style="text-align: justify;">Thoái hoá đĩa đệm ở người cao tuổi gây đau thắt lưng hông mạn tính và tái phát. Tổn thương đĩa đệm do vi chấn thương kéo dài như tài xế lái xe đường dài, ngồi lái ở tư thế lệch người sang một bên hay cúi ra trước trong thời gian dài, khi đó chỉ một gắng sức nhẹ cũng có thể gây thoát vị đĩa đệm. Thoái hóa cột sống thắt lưng cùng do loãng xương, nhuyễn xương, gai xương, biến dạng thân đốt sống, gai xương kèm theo phì đại dây chằng, thoát vị đĩa đệm.</div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;">Trượt cột sống là tình trạng đốt sống bị trượt ra phía trước hoặc sau, do bẩm sinh hay chấn thương, tổn thương các rễ thần kinh, hẹp ống sống thắt lưng. Viêm đốt sống, thường gặp ở người cao tuổi, gây chèn ép các rễ thần kinh, hẹp ống sống thắt lưng… Viêm cột sống dính khớp: với biểu hiện đau thắt lưng hông và mông, cứng khớp cột sống vào buổi sáng, không đỡ đau khi nghỉ.</div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;">Chấn thương trực tiếp vào dây thần kinh tọa, gãy xương cột sống thắt lưng, gãy xương chậu, do tiêm trực tiếp vào dây thần kinh tọa hay do tiêm thuốc thuốc dạng dầu ở mông lan tới dây thần kinh toạ, phẫu thuật áp-xe mông. Các khối u: màng tủy, đốt sống, u thần kinh, u di căn từ các ung thư biểu mô tuyến tiền liệt, vú, phổi, thận, đường tiêu hoá, bệnh đa u tủy xương, u lympho. Nhiễm khuẩn cột sống: viêm cột sống do tụ cầu, thường gặp sau các nhiễm khuẩn ngoài da, tiết niệu, phổi; viêm cột sống do lao, thứ phát sau lao phổi; áp-xe ngoài màng cứng…</div>
<p style="text-align: justify;"><strong>Biểu hiện bệnh thế nào?</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Khởi đầu đau dây thần kinh tọa rất khác nhau tùy từng nguyên nhân. Nhìn chung có những dấu hiệu sau:</p>
<p style="text-align: justify;">Đau tự nhiên, xuất phát từ thắt lưng và lan xuống dưới chân, có khi chỉ xuống tới mông, tới đùi hay xuống tận bàn chân. Nếu tổn thương thắt lưng (L5) thì lan từ thắt lưng xuống mông ra mặt ngoài đùi, mặt trước ngoài cẳng chân, trước mắt cá ngoài, mu bàn chân, đến ngón chân cái. Tổn thương thắt lưng cùng (S1) thì đau từ thắt lưng lan xuống mông, mặt sau đùi, mặt sau cẳng chân, gót, lòng bàn chân, bờ ngoài bàn chân đến ngón út. Thường đau liên tục, có khi có cơn bộc phát, nhưng cũng có thể giảm hay hết đau khi nằm&#8230; Mức độ đau rất thay đổi từ đau âm ỉ cho tới đau dữ dội không chịu được, đau tăng lên khi ho, hắt hơi, có khi chỉ thấy dị cảm mà không thấy đau.</p>
<div style="text-align: justify;">Ðau khi thăm khám: ấn đau ở giữa hay bên cạnh cột sống từ đường giữa ra 2cm ngang vùng thắt lưng L4, L5, S1. Đau khi ấn dọc theo đường đi của dây thần kinh tọa qua thống điểm Valleix 2cm từ giữa cột sống ra ngang đốt sống L5, S1, giữa lằn mông, giữa mặt sau đùi, hõm khoeo chân, điểm cổ xương mác, điểm bắp chân và điểm hõm mắt cá ngoài. Ðau do căng dây thần kinh, dấu hiệu Lasègue: bệnh nhân nằm ngửa, nâng thẳng chân bệnh nhân từng bên một lên cao, nếu chưa tới 70° mà bệnh nhân kêu đau ở mặt sau đùi hay cẳng chân là dương tính…</div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;">
<div align="center">
<table cellspacing="5" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td align="center">
<div>
<div><img src="http://img.suckhoedoisong.vn/Images/Uploaded/Share/2011/11/24/untitled6.JPG" alt="" width="350" /></div>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</div>
<p>Phản xạ gân gót của bệnh nhân giảm hay mất trong tổn thương rễ S1. Bệnh nhân không đi bằng ngón được khi tổn thương S1, còn tổn thương L5 thì không đi bằng gót được. Bệnh nhân bị teo cơ mác trong tổn thương L5, còn tổn thương S1 thì teo cơ bắp chân. Bệnh có thể biểu hiện các thể: thể teo cơ nhanh còn gọi là thể liệt; thể hội chứng đuôi ngựa, thường do thoát vị đĩa đệm chính giữa, tổn thương dây chằng gây liệt mềm hai chân, rối loạn cảm giác hai chân và vùng yên ngựa, kèm bí tiểu, táo bón, bất lực; thể đau thần kinh tọa hai bên: đau xuống cả hai chân nhưng không rối loạn cơ tròn và không rối loạn cảm giác vùng yên ngựa, có khi đau bên này rồi chuyển sang đau bên kia.</p></div>
<p style="text-align: justify;">Xét nghiệm: chụp Xquang thấy đĩa đệm hẹp. Chụp cắt lớp hay cộng hưởng từ thấy rõ tổn thương nhiều loại và xác định được vị trí thoát vị.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Các phương pháp chữa trị</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Các phương pháp điều trị đau thần kinh tọa là: nghỉ ngơi tuyệt đối, bệnh nhân phải nằm giường cứng, tránh nằm võng hay ngồi ghế dựa. Tránh vận động mạnh như xoay người đột ngột, chạy nhảy, cúi gập người&#8230; Vật lý trị liệu: kéo giãn cột sống, nắn cột sống, thể dục trị liệu, hồng ngoại, sóng ngắn, đắp sáp nến&#8230; Dùng thuốc: giảm đau, chống viêm không steroide, phong bế rễ thần kinh bằng corticoid hay novocain kết hợp với vitamin B<sub>12</sub>. Thuốc giãn cơ, an thần, vitamin nhóm B liều cao kết hợp với acid folic. Điều trị nguyên nhân như dùng kháng sinh chống nhiễm khuẩn. Phẫu thuật các trường hợp: thể liệt, hội chứng đuôi ngựa, hẹp ống sống thắt lưng, đau không thể chịu được mặc dù đã dùng thuốc giảm đau hoặc hay tái phát.</p>
<p style="text-align: right;" align="right"><strong>BS. Ninh Thanh Tùng</strong> &#8211; Theo suckhoedoisong</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suckhoe365.net/2011/11/dau-th%e1%ba%a7n-kinh-t%e1%bb%8da-h%e1%ba%adu-qu%e1%ba%a3-c%e1%bb%a7a-nhi%e1%bb%81u-b%e1%bb%87nh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Dị ứng thực phẩm</title>
		<link>http://suckhoe365.net/2011/11/d%e1%bb%8b-%e1%bb%a9ng-th%e1%bb%b1c-ph%e1%ba%a9m/</link>
		<comments>http://suckhoe365.net/2011/11/d%e1%bb%8b-%e1%bb%a9ng-th%e1%bb%b1c-ph%e1%ba%a9m/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 16 Nov 2011 04:21:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Da liễu]]></category>
		<category><![CDATA[Hô hấp]]></category>
		<category><![CDATA[Thần kinh - Tâm thần]]></category>
		<category><![CDATA[dị ứng thực phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[ngất xỉu]]></category>
		<category><![CDATA[Ngứa trong miệng]]></category>
		<category><![CDATA[phát ban và ngứa da]]></category>
		<category><![CDATA[Sốc phản vệ]]></category>
		<category><![CDATA[sưng môi lưỡi]]></category>
		<category><![CDATA[thở khò khè]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suckhoe365.net/?p=13668</guid>
		<description><![CDATA[Dị ứng thực phẩm! Ngứa trong miệng, phát ban và ngứa da, sưng môi lưỡi, thở khò khè và khó thở, chóng mặt hoa mắt và ngất xỉu, sốc phản vệ, dị ứng thực phẩm liên quan đến dị ứng thực phẩm&#8230; Định nghĩa Thực phẩm gây dị ứng là một phản ứng hệ miễn [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h4 style="text-align: justify;" align="center">Dị ứng thực phẩm! Ngứa trong miệng, phát ban và ngứa da, sưng môi lưỡi, thở khò khè và khó thở, chóng mặt hoa mắt và ngất xỉu, sốc phản vệ, dị ứng thực phẩm liên quan đến dị ứng thực phẩm&#8230;</h4>
<h3 style="text-align: justify;" align="center">Định nghĩa</h3>
<p style="text-align: justify;" align="center">Thực phẩm gây dị ứng là một phản ứng hệ miễn dịch xảy ra ngay sau khi ăn một loại thực phẩm nhất định. Ngay cả một số lượng nhỏ của thực phẩm gây dị ứng có thể gây ra các dấu hiệu và triệu chứng như các vấn đề về tiêu hóa, phát ban hoặc đường hô hấp sưng lên. Ở một số người, dị ứng thực phẩm có thể gây ra triệu chứng nặng hoặc thậm chí phản ứng đe dọa mạng sống được gọi là sốc phản vệ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><a href="http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2011/11/ng%E1%BB%99-%C4%91%E1%BB%99c-th%E1%BB%B1c-ph%E1%BA%A9m-21.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-13670" title="ngộ độc thực phẩm (2)" src="http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2011/11/ng%E1%BB%99-%C4%91%E1%BB%99c-th%E1%BB%B1c-ph%E1%BA%A9m-21.jpg" alt="" width="378" height="290" /></a></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Dị ứng thực phẩm ảnh hưởng đến 6 &#8211; 8% ước tính của trẻ em dưới 3 tuổi, và khoảng 4% người lớn. Thật dễ dàng nhầm lẫn giữa dị ứng thực phẩm với một phản ứng phổ biến nhiều hơn nữa được gọi là không dung nạp thức ăn. Trong khi khó chịu, không dung nạp thức ăn là một điều kiện ít nghiêm trọng mà không liên quan đến hệ miễn dịch.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Các triệu chứng</strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Đối với một số người, một phản ứng dị ứng với một loại thức ăn đặc biệt có thể khó chịu nhưng không nghiêm trọng. Đối với những người khác, một phản ứng dị ứng thực phẩm có thể là đáng sợ, thậm chí đe dọa tính mạng. Triệu chứng dị ứng thực phẩm thường phát triển trong vòng vài phút đến một giờ sau khi ăn các thực phẩm vi phạm.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Phổ biến nhất triệu chứng dị ứng thực phẩm bao gồm:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Ngứa ran trong miệng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Phát ban, ngứa hoặc eczema.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Sưng môi lưỡi, mặt và cổ họng, hoặc các bộ phận khác của cơ thể.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Thở khò khè, nghẹt mũi hoặc khó thở.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn hoặc ói mửa.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Chóng mặt, hoa mắt hoặc ngất xỉu.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Sốc phản vệ</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Ở một số người, dị ứng thực phẩm có thể gây ra một phản ứng dị ứng nghiêm trọng gọi là sốc phản vệ. Điều này có thể gây ra các triệu chứng đe dọa tính mạng, bao gồm:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Thắt và thắt chặt của đường hô hấp.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Cổ họng bị sưng hoặc làm cho nó khó thở.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Shock, với sự sụt giảm nghiêm trọng về huyết áp.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Mạch nhanh.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Chóng mặt, hoa mắt hoặc mất ý thức.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Cấp cứu điều trị là rất quan trọng đối với phản ứng phản vệ. Nếu không điều trị, sốc phản vệ có thể gây hôn mê hoặc tử vong.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Tập thể dục gây ra dị ứng thực phẩm</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Một số người có một phản ứng dị ứng với một loại thực phẩm gây ra bởi tập thể dục. Khi cơ thể được kích thích bằng cách tập thể dục, một người với tập thể dục gây ra dị ứng thực phẩm có thể cảm thấy ngứa và váng. Trong trường hợp nghiêm trọng, nó có thể gây ra phản ứng như phát ban hoặc phản ứng phản vệ. Không ăn uống cho một vài giờ trước khi tập thể dục và tránh các loại thực phẩm nhất định có thể giúp ngăn ngừa vấn đề này.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Dị ứng phấn hoa, thực phẩm</strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Trong rất nhiều người bị sốt cỏ khô, trái cây tươi và rau quả và hạt nhất định và các loại gia vị có thể kích hoạt một phản ứng dị ứng gây ra miệng sưng hoặc ngứa. Ở một số người, dị ứng phấn hoa, thực phẩm đôi khi được gọi là hội chứng dị ứng miệng &#8211; có thể gây sưng cổ họng, thậm chí phản vệ. Đây là một ví dụ về phản ứng chéo. Protein trong rau quả gây ra phản ứng vì chúng tương tự như các protein gây dị ứng tìm thấy trong phấn hoa nào đó. Ví dụ, nếu bị dị ứng với cỏ phấn hương, cũng có thể phản ứng với dưa hấu, nếu dị ứng với phấn hoa bạch dương, cũng có thể phản ứng với quả táo. Nấu ăn trái cây và rau quả có thể giúp tránh những phản ứng này. Hầu hết trái cây và rau cải nấu chín thường không gây triệu chứng dị ứng chéo phản ứng miệng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Đến gặp bác sĩ khi</strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Khám bác sĩ hoặc dị ứng nếu có các triệu chứng dị ứng thực phẩm ngay sau khi ăn. Nếu có thể, hãy gặp bác sĩ khi các phản ứng dị ứng xảy ra. Điều này sẽ giúp bác sĩ chẩn đoán.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Tìm kiếm sự điều trị khẩn cấp nếu phát triển bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phản ứng phản vệ, chẳng hạn như:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Triệu chứng của đường hô hấp làm cho khó thở.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Shock, với sự sụt giảm nghiêm trọng về huyết áp.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Mạch nhanh.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Hoa mắt chóng mặt.</p>
<h3 style="text-align: justify;" align="center">Nguyên nhân</h3>
<p style="text-align: justify;" align="center">Trong dị ứng thực phẩm thực sự, hệ thống miễn dịch nhầm lẫn xác định một thực phẩm cụ thể hoặc một chất trong thực phẩm như là một chất có hại. hệ thống miễn dịch kích hoạt các tế bào để phát hành các kháng thể được gọi là globulin miễn dịch E (IgE), các kháng thể để chống lại các thực phẩm thủ phạm hay chất thực phẩm (các chất gây dị ứng). Lần sau, ăn ngay cả những số nhỏ nhất của thực phẩm, các kháng thể IgE cảm giác nó và tín hiệu của hệ miễn dịch để phát hành một hóa chất gọi là histamine cũng như các hóa chất khác, vào máu.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Những hóa chất này gây ra một loạt các dấu hiệu và triệu chứng dị ứng. Nó có trách nhiệm gây ra phản ứng dị ứng bao gồm chảy mũi, mắt ngứa, khô cổ, phát ban và nổi mề đay, buồn nôn, tiêu chảy, khó thở, và thậm chí sốc phản vệ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Đa số các bệnh dị ứng thực phẩm được kích hoạt bởi các protein nhất định trong:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Động vật có vỏ như tôm hùm, tôm và cua.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Đậu phộng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Cây lạc, quả óc chó và hồ đào.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Cá.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Trứng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Ở trẻ em, dị ứng thức ăn cũng thường được kích hoạt bởi các protein trong:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Trứng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Sữa.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Đậu phộng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Cây hạt.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Chocolate, suy nghĩ của một số cha mẹ, gây ra dị ứng thực phẩm ở trẻ em, nhưng hiếm khi gây dị ứng thực phẩm.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Thực phẩm không dung nạp và phản ứng khác</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Có một số phản ứng với thức ăn gây ra các triệu chứng tương tự như dị ứng thực phẩm. Nếu có các triệu chứng tiêu hóa, rất có thể là nó không phải là dị ứng thực phẩm, có thể không dung nạp thức ăn. Tùy thuộc vào loại không dung nạp thức ăn có, có thể ăn một lượng nhỏ các loại thực phẩm có vấn đề mà không có phản ứng. Ngược lại, nếu  bị dị ứng thực phẩm thực sự, ngay cả một lượng nhỏ thức ăn có thể gây ra phản ứng dị ứng. Bởi vì không dung nạp thức ăn có thể bao gồm một số các dấu hiệu và triệu chứng giống như bị dị ứng thức ăn &#8211; chẳng hạn như buồn nôn, nôn, chuột rút và tiêu chảy &#8211; người ta thường nhầm lẫn giữa hai.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Một trong những khía cạnh phức tạp của việc chẩn đoán không dung nạp thức ăn là một số người nhạy cảm chứ không phải bản thân thực phẩm, nhưng với một chất hay thành phần được sử dụng trong việc chuẩn bị thức ăn.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Phổ biến điều kiện có thể gây nhầm lẫn với triệu chứng dị ứng thực phẩm bao gồm:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Sự vắng mặt của một loại enzyme cần thiết để đủ tiêu hóa thực phẩm. Không thể có số lượng đầy đủ của một số enzyme cần thiết để tiêu hóa thức ăn nhất định. Không đủ số lượng của men lactase, ví dụ, làm giảm khả năng tiêu hóa lactose, các đường chính trong các sản phẩm sữa. Không dung nạp lactose có thể gây ra đầy bụng, chuột rút, tiêu chảy và khí dư thừa.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Hội chứng ruột kích thích.</strong> Một số thực phẩm có thể gây ra các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng ruột kích thích. Có thể thấy rằng các loại thực phẩm nhất định sẽ gây ra chuột rút bụng, táo bón hoặc tiêu chảy. Tránh xa những thực phẩm này để tránh các triệu chứng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Ngộ độc thực phẩm.</strong> Đôi khi thực phẩm nhiễm độc có thể bắt chước các phản ứng dị ứng. Một số loại nấm và đại hoàng có thể độc hại. Vi khuẩn trong cá ngừ hư hỏng và các loài cá khác cũng có thể làm cho một độc tố gây ra các phản ứng có hại.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Nhạy cảm với các chất phụ gia thực phẩm.</strong> Một số người có phản ứng tiêu hóa và các triệu chứng khác sau khi ăn phụ gia thực phẩm nhất định. Ví dụ, sulfite dùng để bảo quản trái cây sấy khô, đóng hộp hàng hoá và rượu có thể gây ra các cơn hen suyễn ở những người nhạy cảm. Phụ gia thực phẩm khác có thể kích hoạt phản ứng xấu bao gồm bột ngọt (MSG), chất làm ngọt nhân tạo và chất tạo màu thực phẩm.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Định kỳ căng thẳng hoặc các yếu tố tâm lý.</strong> Đôi khi nghĩ chỉ là một thực phẩm có thể làm cho bị bệnh. Lý do là không hoàn toàn hiểu rõ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Bệnh Celiac.</strong> Bệnh celiac đôi khi được gọi là dị ứng gluten, nó không phải là dị ứng thực phẩm thực sự. Giống như một dị ứng thực phẩm, nó không liên quan đến phản ứng của hệ miễn dịch, nhưng đó là một phản ứng duy nhất của hệ thống miễn dịch phức tạp hơn một dị ứng thức ăn đơn giản. Tình trạng mãn tính tiêu hóa được kích hoạt bằng cách ăn gluten, một loại protein được tìm thấy trong bánh mì, mì ống, cookies, và nhiều loại thực phẩm khác có chứa lúa mì, lúa mạch hoặc lúa mạch đen. Nếu  có bệnh celiac và ăn các thức ăn có chứa gluten, một phản ứng miễn dịch xảy ra gây thiệt hại cho bề mặt của ruột non  và không có khả năng hấp thụ một số chất dinh dưỡng. Các triệu chứng của bệnh celiac bao gồm tiêu chảy, đau bụng và đầy hơi. Trong một số trường hợp, bệnh celiac gây suy dinh dưỡng và thiếu dinh dưỡng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Yếu tố nguy cơ</strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Dị ứng thực phẩm, yếu tố nguy cơ bao gồm:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Lịch sử gia đình.</strong>  Có nguy cơ dị ứng thức ăn nếu bệnh suyễn, chàm, phát ban hoặc dị ứng, chẳng hạn như sốt cỏ khô, được phổ biến trong gia đình .</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Một dị ứng thực phẩm trong quá khứ.</strong> Trẻ em có thể không có dị ứng thực phẩm, nhưng trong một số trường hợp, sẽ gặp sau này trong đời.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Các dị ứng.</strong> Nếu bị dị ứng với một thực phẩm, có thể có nguy cơ trở thành dị ứng khác. Tương tự như vậy, có một loại dị ứng, chẳng hạn như sốt cỏ khô, làm tăng nguy cơ bị dị ứng thực phẩm.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Tuổi.</strong> Dị ứng thực phẩm phổ biến nhất ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh. Khi  lớn lên, hệ thống tiêu hóa trưởng thành và cơ thể ít có khả năng hấp thụ thành phần gây dị ứng thức ăn hay thực phẩm. Trẻ em thường dị ứng với sữa, đậu nành, lúa mì và trứng. Dị ứng nghiêm trọng và dị ứng với các loại hạt và động vật có vỏ có nhiều khả năng được suốt đời.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Các biến chứng</strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Các biến chứng của dị ứng thực phẩm có thể bao gồm:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Sốc phản vệ.</strong> Một đe dọa tính mạng phản ứng dị ứng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Viêm da dị ứng (eczema).</strong> Khoảng một trong ba người bị viêm da dị ứng cũng bị dị ứng thực phẩm.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Đau nửa đầu.</strong> Dị ứng, phát hành bởi hệ thống miễn dịch  trong một phản ứng dị ứng, đã được chứng minh là gây ra chứng đau nửa đầu ở một số người.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Trong khi một số người nghĩ rằng bệnh dị ứng thực phẩm có liên quan đến hiếu động thái quá ở trẻ em và bệnh viêm khớp, không có bằng chứng để hỗ trợ này.</p>
<h3 style="text-align: justify;" align="center">Các xét nghiệm và chẩn đoán</h3>
<p style="text-align: justify;" align="center">Sau đây có thể giúp xác định xem có bị dị ứng thực phẩm thực sự, hơn là không dung nạp thức ăn, ngộ độc thực phẩm hoặc tình trạng một số khác.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Mô tả các triệu chứng.</strong> Hãy chuẩn bị để nói với bác sĩ có một lịch sử của các triệu chứng, mà thực phẩm và bao nhiêu có vẻ gây ra vấn đề, cho dù có tiền sử gia đình dị ứng thức ăn hoặc dị ứng khác.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Thực phẩm nhật ký. </strong>Bác sĩ có thể yêu cầu giữ một cuốn nhật ký thực phẩm của thói quen ăn uống, các triệu chứng và thuốc men để xác định vấn đề.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Xoá bỏ chế độ ăn uống.</strong>  Có thể yêu cầu loại bỏ các loại thực phẩm nghi ngờ một hoặc hai tuần, và sau đó thêm các loại thức ăn trở thành một chế độ ăn uống tại một thời điểm. Quá trình này có thể giúp các triệu chứng liên quan tới các loại thực phẩm cụ thể. Tuy nhiên, đây không phải là một phương pháp hoàn hảo. Yếu tố tâm lý cũng như các yếu tố vật lý có thể góp phần. Ví dụ, nếu  nghĩ rằng đang nhạy cảm với thực phẩm, đáp ứng có thể được kích hoạt mà không phải là một thực sự dị ứng nhất. Nếu đã có một phản ứng nghiêm trọng với thức ăn, phương pháp này có thể không được sử dụng an toàn.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Kiểm tra lâm sàng.</strong> Một bài kiểm tra cẩn thận có thể xác định hoặc loại trừ các vấn đề y tế khác.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Da thử nghiệm.</strong> Một thử nghiệm chích da có thể xác định phản ứng thực phẩm cụ thể. Trong thử nghiệm này, một lượng nhỏ các loại thực phẩm nghi ngờ được đặt trên da của cánh tay hoặc lưng. Làn da sau đó đâm bằng kim, để cho phép một số lượng nhỏ của chất bên dưới bề mặt da. Nếu dị ứng với một chất cụ thể đang được thử nghiệm,  phát triển một vết sưng tấy hoặc phản ứng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Xét nghiệm máu.</strong> Một xét nghiệm máu có thể đo được phản ứng của hệ miễn dịch thực phẩm cụ thể bằng cách kiểm tra số lượng kháng thể dị ứng loại trong máu, được gọi là globulin miễn dịch E (IgE) kháng thể. Đối với thử nghiệm này, một mẫu máu được lấy trong văn phòng của bác sĩ được gửi tới một phòng thí nghiệm y tế, nơi mà các loại thực phẩm khác nhau có thể được kiểm tra. Tuy nhiên, các xét nghiệm máu thường không chính xác.</p>
<h3 style="text-align: justify;" align="center">Phương pháp điều trị và thuốc</h3>
<p style="text-align: justify;" align="center">Cách duy nhất để tránh một phản ứng dị ứng là tránh các loại thực phẩm có dấu hiệu và triệu chứng gây ra. Tuy nhiên, bất chấp nỗ lực  tốt nhất, có thể tiếp xúc với một loại thực phẩm gây ra một phản ứng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Đối với một phản ứng dị ứng nhẹ, thuốc kháng histamin toa hoặc quy định có thể giúp giảm triệu chứng. Các thuốc này có thể được thực hiện sau khi tiếp xúc với một thực phẩm gây dị ứng để giúp giảm ngứa hoặc phát ban. Tuy nhiên, thuốc kháng histamine không thể điều trị một phản ứng dị ứng nghiêm trọng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Đối với một phản ứng dị ứng nặng, có thể cần tiêm khẩn cấp của epinephrine và chuyến đi đến phòng cấp cứu. Nhiều người bị dị ứng thực hiện một autoinjector (EpiPen, EpiPen Jr hoặc Twinject). Thiết bị này được kết hợp một ống tiêm và kim giấu tiêm một liều thuốc khi ép vào đùi. Nếu bác sĩ đã quy định một autoinjector epinephrine:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Mang với nó ở mọi thời điểm. Nó có thể là một ý tưởng tốt để giữ autoinjector thêm trong xe hoặc trong bàn trong công việc.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Luôn luôn được bảo đảm thay thế epinephrine trước ngày hết hạn của nó, hoặc nó có thể không hoạt động đúng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Hãy chắc chắn rằng biết cách sử dụng các autoinjector. Ngoài ra, hãy chắc chắn rằng người gần nhất biết làm thế nào để quản lý thuốc, nếu họ với trường hợp khẩn cấp phản vệ, họ có thể cứu sống .</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Trong khi có nghiên cứu liên tục để tìm phương pháp điều trị tốt hơn để làm giảm các triệu chứng dị ứng thực phẩm và ngăn chặn các cuộc tấn công dị ứng, không có bất kỳ điều trị chứng minh rằng hoàn toàn có thể ngăn ngừa hoặc làm giảm triệu chứng. Thật không may dị ứng (miễn dịch), một loạt các thuốc tiêm được sử dụng để giảm hiệu ứng dị ứng khác như sốt cỏ khô, không có hiệu quả để điều trị dị ứng thức ăn.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Việc điều trị chủ yếu là để làm tốt nhất tránh các thực phẩm trong câu hỏi, và làm việc với bác sĩ để xác định những bước có thể làm để giảm các triệu chứng, và làm thế nào để phát hiện và phản ứng với một phản ứng nghiêm trọng.</p>
<h3 style="text-align: justify;" align="center">Phong cách sống và biện pháp khắc phục</h3>
<p style="text-align: justify;" align="center">Một trong những chìa khóa để ngăn ngừa phản ứng dị ứng là hoàn toàn tránh những thực phẩm gây ra các triệu chứng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Đừng giả định</strong>. Luôn đọc nhãn thực phẩm sản xuất để đảm bảo chúng không chứa một thành phần đang bị dị ứng. Ngay cả khi nghĩ rằng biết những gì trong thực phẩm, kiểm tra các nhãn. Thành phần đôi khi thay đổi. Nhãn thực phẩm phải có danh sách rõ ràng cho dù có chứa chất gây dị ứng thực phẩm phổ biến nào. Đọc nhãn thực phẩm một cách cẩn thận để tránh các nguồn chất gây dị ứng thực phẩm: sữa, trứng, lạc, hạt cây, cá, sò biển, đậu nành và lúa mì.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Khi nghi ngờ, hãy nói không.</strong> Tại nhà hàng và các cuộc tụ họp xã hội, luôn luôn một nguy cơ mà có thể ăn một loại thức ăn đang bị dị ứng. Nhiều người không hiểu được mức độ của một phản ứng dị ứng thực phẩm và có thể không nhận ra rằng một lượng nhỏ thức ăn có thể gây ra một phản ứng nghiêm trọng ở một số người. Nếu có bất kỳ nghi ngờ tại tất cả những thực phẩm có thể chứa đựng một cái gì đó đang bị dị ứng, tránh xa.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Liên quan đến người chăm sóc.</strong> Nếu con bị dị ứng thực phẩm, tranh thủ sự giúp đỡ của người thân, người trông bé, giáo viên và những người chăm sóc khác. Hãy chắc chắn rằng họ hiểu được tầm quan trọng của nó là dành cho con để tránh các thực phẩm gây dị ứng và họ biết phải làm gì trong trường hợp khẩn cấp.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Thay thế thuốc</strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Nghiên cứu về phương pháp điều trị dị ứng thức ăn thay thế là hạn chế. Tuy nhiên, nhiều người cố gắng cho họ và cho rằng phương pháp điều trị nào đó giúp đỡ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Thảo dược biện pháp khắc phục.</strong> Một vài nghiên cứu nhỏ của các biện pháp thảo dược đã cho thấy một số lợi ích trong việc làm giảm các triệu chứng và ngăn ngừa sốc phản vệ, bao gồm một số công thức y học Trung Quốc. Tuy nhiên, không có bằng chứng đáng tin cậy nhưng công việc này. Ngoài ra, có những lo ngại về chất lượng của một số chế phẩm thảo dược từ Trung Quốc. Nếu có một phương thuốc thảo dược, hãy chắc chắn để nói với bác sĩ về nó. Nó có thể ảnh hưởng đến kết quả thử nghiệm hoặc tương tác với các thuốc khác.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Châm cứu.</strong> Có ít nghiên cứu về châm cứu cho bệnh dị ứng thực phẩm, và các nghiên cứu đó có tồn tại không cho thấy một lợi ích rõ ràng từ những kỹ thuật này. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng những phương pháp điều trị giúp đỡ với một số điều kiện sức khỏe, bao gồm dị ứng và có ít nguy cơ trong cố gắng cho họ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Chế độ ăn kiêng đặc biệt.</strong> Trong quá khứ, &#8220;xoay chế độ ăn&#8221; có tránh các loại thực phẩm nhất định vào những thời điểm nhất định đã cố gắng như là một điều trị dị ứng thức ăn. Không có bằng chứng cho thấy điều này hoặc các chế độ ăn như là thực phẩm có hiệu quả điều trị dị ứng. Chiến lược thực phẩm chỉ được chứng minh để làm việc được hoàn tất tránh các thực phẩm gây dị ứng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Đối phó và hỗ trợ</strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Dị ứng thực phẩm có thể được thử thách và một nguồn quan tâm liên tục. Có một nguồn thông tin và cơ hội để thảo luận về các điều kiện với những người khác chia sẻ mối quan tâm có thể rất hữu ích. Một số trang web Internet và các tổ chức phi lợi nhuận cung cấp thông tin và diễn đàn để thảo luận về dị ứng thực phẩm. Một số là đặc biệt cho phụ huynh của các trẻ em bị dị ứng thực phẩm.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Phòng chống</strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Cách tốt nhất để ngăn chặn một phản ứng dị ứng là để biết và tránh các loại thực phẩm có dấu hiệu và triệu chứng gây ra. Đối với một số người, đây là một sự bất tiện đơn thuần, nhưng những người khác tìm thấy nó khó khăn lớn hơn. Ngoài ra một số loại thực phẩm, khi được sử dụng làm nguyên liệu trong các món ăn nào đó có thể được dấu kín. Điều này đặc biệt đúng trong các nhà hàng và ở những xã hội khác.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Nếu biết có bị dị ứng thực phẩm, theo các bước sau:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Biết những gì đang ăn uống.</strong> Hãy chắc chắn để đọc nhãn thực phẩm một cách cẩn thận.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Nếu đã có một phản ứng nghiêm trọng</strong>. Đeo một chiếc vòng tay hoặc vòng cổ y tế cảnh báo, cho phép người khác biết bị dị ứng thực phẩm trong trường hợp có một phản ứng và  không thể giao tiếp.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Nói chuyện với bác sĩ</strong> về tình trạng khẩn cấp quy định epinephrine (adrenaline).</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Nếu có bệnh hen suyễn,</strong> hãy chắc chắn hỏi nếu sulfite đã được thêm vào thức ăn khi ăn uống trong nhà hàng. Khi đi mua thực phẩm, nhãn kiểm tra cho các điều khoản &#8220;sodium bisulfite,&#8221; &#8220;bisulfit kali&#8221;, &#8220;natri sunfit&#8221;, &#8220;lưu huỳnh dioxit&#8221; và &#8220;metabisulfite kali.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Khi ăn,</strong> chắc chắn biết rằng hoàn toàn không thể ăn các thực phẩm đang bị dị ứng, và  cần 100 phần trăm nhất định rằng các bữa ăn đặt hàng không có nó. Ngoài ra, nhận thức ô nhiễm chéo trong thực phẩm trong nhà bếp &#8211; làm cho thực phẩm chắc chắn không được chuẩn bị trên các bề mặt hoặc trong chảo có chứa bất kỳ các thực phẩm  đang bị dị ứng. Là tốt hơn nếu nói chuyện với các đầu bếp &#8211; không thể miễn cưỡng để làm cho nhu cầu  được biết đến. Nhân viên nhà hàng thường hạnh phúc hơn để giúp đỡ khi họ hiểu rõ yêu cầu.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Nếu con bị dị ứng thực phẩm, có các biện pháp phòng ngừa để bảo đảm an toàn của mình:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Thông báo bị dị ứng thực phẩm.</strong> Nói chuyện với các nhà cung cấp chăm sóc trẻ, nhân viên nhà trường, phụ huynh và người lớn khác, những người thường xuyên tiếp xúc với con . Nhấn mạnh rằng một phản ứng dị ứng có thể đe dọa tính mạng và đòi hỏi phải hành động ngay lập tức. Hãy chắc chắn rằng con cũng biết để yêu cầu giúp đỡ ngay lập tức nếu anh ta phản ứng với thực phẩm.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Giải thích các triệu chứng dị ứng thực phẩm</strong>. Dạy người lớn dành thời gian với con  làm thế nào để nhận biết các dấu hiệu và triệu chứng của phản ứng dị ứng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Viết một kế hoạch hành động.</strong> Kế hoạch nên mô tả làm thế nào để chăm sóc cho con  khi họ có một phản ứng dị ứng với thực phẩm. Cung cấp một bản sao của kế hoạch này cho y tá trường học của con em và những người chăm sóc và giám sát con.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Cho trẻ mặc một chiếc vòng tay hoặc vòng cổ y tế cảnh báo.</strong> Cảnh báo này liệt kê các triệu chứng dị ứng của trẻ và giải thích cách những người khác có thể cung cấp viện trợ đầu tiên trong trường hợp khẩn cấp.</p>
<p style="text-align: right;"><strong>Theo Dieutri.vn</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suckhoe365.net/2011/11/d%e1%bb%8b-%e1%bb%a9ng-th%e1%bb%b1c-ph%e1%ba%a9m/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tê tay</title>
		<link>http://suckhoe365.net/2011/11/te-tay/</link>
		<comments>http://suckhoe365.net/2011/11/te-tay/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 16 Nov 2011 04:05:30 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thần kinh - Tâm thần]]></category>
		<category><![CDATA[chèn dây thần kinh]]></category>
		<category><![CDATA[mất cảm giác tay]]></category>
		<category><![CDATA[tê tay]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suckhoe365.net/?p=13659</guid>
		<description><![CDATA[Tê tay! Tê tay mô tả một mất cảm giác hoặc ở bàn tay hoặc ngón tay. Tê tay thường do kích ứng hoặc nén của một nhánh của một dây thần kinh đi tới cánh tay bàn tay hoặc ngón tay. Định nghĩa Tê tay mô tả một mất cảm giác hoặc ở bàn [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h4 style="text-align: justify;" align="center">Tê tay! Tê tay mô tả một mất cảm giác hoặc ở bàn tay hoặc ngón tay. Tê tay thường do kích ứng hoặc nén của một nhánh của một dây thần kinh đi tới cánh tay bàn tay hoặc ngón tay.</h4>
<h3 style="text-align: justify;" align="center">Định nghĩa</h3>
<p style="text-align: justify;" align="center">Tê tay mô tả một mất cảm giác hoặc ở bàn tay hoặc ngón tay. Tê tay thường do kích ứng hoặc nén của một nhánh của một dây thần kinh đi tới cánh tay bàn tay hoặc ngón tay. Tê tay có thể kèm theo ngứa, yếu, nóng hoặc đôi khi đau nhói. Nếu trải nghiệm tê tay, tham khảo ý kiến bác sĩ để được chẩn đoán và điều trị.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><a href="http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2011/11/t%C3%AA-tay.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-13660" title="tê tay" src="http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2011/11/t%C3%AA-tay.jpg" alt="" width="400" height="320" /></a></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Trong một số trường hợp, tê ở tay có liên quan với bệnh đe dọa tính mạng, chẳng hạn như đột quỵ. Nhận trợ giúp y tế khẩn cấp nếu tê bàn tay:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Bắt đầu đột ngột.</strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Liên quan đến cả một cánh tay.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Kèm theo đó là điểm yếu hoặc tê liệt, rối loạn, khó nói, chóng mặt, hoặc đột nhiên đau đầu trầm trọng.</p>
<h3 style="text-align: justify;" align="center">Nguyên nhân</h3>
<p style="text-align: justify;" align="center">Nguyên nhân có thể của tê tay bao gồm:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Nghiện rượu.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Amynoidosis.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Bị thương đám rối thần kinh cành tay.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Hội chứng ống cổ tay.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Thoái hóa đốt sống cổ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Tiểu đường tuýp 2.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Nang hạch.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Hội chứng Guillain &#8211; Bare.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">HIV / AIDS.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Bệnh Lyme.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Hội chứng Paraneoplastic.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Bệnh thần kinh ngoại biên.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Bệnh Raynaud.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Phản ứng phụ của thuốc hóa trị.</strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Hội chứng Sjogren.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Chấn thương tủy sống.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Đột quỵ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Giang mai.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Bệnh rỗng tủy sống.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Nén thần kinh xương trụ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Viêm mạch.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Thiếu Vitamin B12.</p>
<h3 style="text-align: justify;" align="center">Đến gặp bác sỹ khi</h3>
<p style="text-align: justify;" align="center">Điều quan trọng để xác định nguyên nhân gây tê ở bàn tay. Nếu tê vẫn còn tồn tại hoặc lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể, tham khảo ý kiến bác sĩ để đánh giá. Điều trị tê ở bàn tay phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Gọi giúp đỡ khẩn cấp y tế nếu tê:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Bắt đầu đột ngột.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Liên quan đến cả một cánh tay.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Kèm theo đó là điểm yếu hoặc tê liệt, rối loạn, khó nói, chóng mặt, hoặc đột nhiên đau đầu trầm trọng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Lịch trình chuyến thăm văn phòng nếu tê:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Bắt đầu hoặc xấu đi dần dần và kéo dài.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Ảnh hưởng đến cả hai bên của cơ thể.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Đến và đi.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Có vẻ liên quan đến nhiệm vụ nhất định hoặc các hoạt động, đặc biệt là chuyển động lặp đi lặp lại.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Ảnh hưởng đến chỉ là một phần của cánh tay, như một ngón tay.</p>
<p style="text-align: right;"><strong>Theo Dieutri.vn</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suckhoe365.net/2011/11/te-tay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Mệt mỏi mãn tính</title>
		<link>http://suckhoe365.net/2011/11/m%e1%bb%87t-m%e1%bb%8fi-man-tinh/</link>
		<comments>http://suckhoe365.net/2011/11/m%e1%bb%87t-m%e1%bb%8fi-man-tinh/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 16 Nov 2011 03:40:44 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thần kinh - Tâm thần]]></category>
		<category><![CDATA[cơ bắp đau]]></category>
		<category><![CDATA[gan]]></category>
		<category><![CDATA[Mệt mỏi mạn tính]]></category>
		<category><![CDATA[ngủ không ngon]]></category>
		<category><![CDATA[Nhức đầu]]></category>
		<category><![CDATA[Rối loạn tuyến yên]]></category>
		<category><![CDATA[xương]]></category>
		<category><![CDATA[đau di chuyển]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suckhoe365.net/?p=13642</guid>
		<description><![CDATA[Mệt mỏi mãn tính! Là một rối loạn phức tạp, có tám triệu chứng chính thức cộng với triệu chứng nguồn gốc: Mệt mỏi, mất tập trung, viêm họng, đau đớn lan rộng, không giải thích được cơ bắp đau, đau di chuyển, nhức đầu, ngủ không ngon, kiệt sức kéo dài&#8230;Ngoài ra: Đau bụng, [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h4 style="text-align: justify;" align="center">Mệt mỏi mãn tính! Là một rối loạn phức tạp, có tám triệu chứng chính thức cộng với triệu chứng nguồn gốc: Mệt mỏi, mất tập trung, viêm họng, đau đớn lan rộng, không giải thích được cơ bắp đau, đau di chuyển, nhức đầu, ngủ không ngon, kiệt sức kéo dài&#8230;Ngoài ra: Đau bụng, dị ứng, đầy hơi, đau ngực, ho mãn tính, tiêu chảy, chóng mặt&#8230;</h4>
<h3 style="text-align: justify;" align="center">Định nghĩa</h3>
<p style="text-align: justify;" align="center">Hội chứng mệt mỏi mãn tính (CFS) là một rối loạn phức tạp đặc trưng bởi sự mệt mỏi cùng cực mà có thể xấu đi với hoạt động thể chất hoặc tâm thần, nhưng không cải thiện khi nghỉ ngơi. Mặc dù có rất nhiều lý thuyết khác nhau về những gì gây ra hiện tượng này, từ nhiễm virus đến căng thẳng tâm lý, nhiều trường hợp gây ra vẫn chưa rõ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Bởi vì các triệu chứng của nó rất khó để đo lường, CFS đã không được chấp nhận rộng rãi như một điều kiện y tế thực tế trong nhiều năm. Hôm nay, tuy nhiên các bác sĩ và các nhà nghiên cứu đồng ý rằng tình trạng kinh niên này cần được thực hiện nghiêm túc.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><a href="http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2011/11/M%E1%BB%87t-m%E1%BB%8Fi-m%C3%A3n-t%C3%ADnh.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-13646" title="Mệt mỏi mãn tính" src="http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2011/11/M%E1%BB%87t-m%E1%BB%8Fi-m%C3%A3n-t%C3%ADnh.jpg" alt="" width="380" height="325" /></a></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Mặc dù nguyên nhân thường là không tìm thấy, phương pháp điều trị hiệu quả cho các dấu hiệu và triệu chứng của CFS có sẵn. Nhiều người phục hồi từ hội chứng mệt mỏi mãn tính theo thời gian.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Các triệu chứng</strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Những người bị hội chứng mệt mỏi kinh niên có thể gặp một loạt các dấu hiệu và triệu chứng đến và đi thường xuyên mà không có mô hình nhận dạng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Dấu hiệu và triệu chứng </strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Hội chứng mệt mỏi mãn tính có tám triệu chứng chính thức, cộng với triệu chứng nguồn gốc cung cấp cho nó:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Mệt mỏi.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Mất trí nhớ hoặc tập trung.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Viêm họng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Đau đớn và lan rộng tới các hạch bạch huyết ở cổ hoặc nách.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Không giải thích được cơ bắp đau.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Đau di chuyển từ một nơi khác mà không sưng hoặc tấy đỏ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Nhức đầu của một loại mới, mô hình hay mức độ nghiêm trọng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Ngủ không ngon giấc.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Kiệt sức kéo dài hơn 24 giờ sau khi tập thể dục thể chất hoặc tâm thần.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Bổ sung các dấu hiệu và triệu chứng </strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Ngoài ra, những người có hội chứng mệt mỏi mãn tính đã có các dấu hiệu và triệu chứng khác nhau mà không phải là một phần của định nghĩa chính thức. Chúng bao gồm:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Đau bụng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Dị ứng hoặc nhạy cảm với các loại thực phẩm, rượu, mùi hôi, hóa chất, thuốc hoặc tiếng ồn.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Đầy hơi.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Đau ngực.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Ho mãn tính.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Tiêu chảy.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Chóng mặt, vấn đề cân bằng hoặc ngất xỉu.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Khô miệng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Đau tai.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Nhịp tim bất thường.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Đau hàm.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Cứng khớp buổi sáng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Buồn nôn.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Ớn lạnh và đổ mồ hôi đêm.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Vấn đề tâm lý, chẳng hạn như trầm cảm, khó chịu, rối loạn lo âu và hoảng sợ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Khó thở.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Cảm giác ngứa ran.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Rối loạn thị giác, ví dụ như nhìn mờ, nhạy cảm với ánh sáng, đau mắt và khô mắt.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Trọng lượng mất mát hoặc đạt được.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Nếu có hội chứng mệt mỏi mãn tính, các triệu chứng có thể cao điểm và trở nên ổn định sớm và sau đó đến và đi. Một số người phục hồi hoàn toàn, trong khi những người khác phát triển dần dần nặng hơn.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Mệt mỏi có thể là một triệu chứng của nhiều bệnh, chẳng hạn như nhiễm trùng hoặc rối loạn tâm lý. Nói chung, khám bác sĩ nếu có mệt mỏi dai dẳng hoặc quá mức.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Một người với CFS nhận được điều trị y tế càng lớn thì khả năng bệnh sẽ được giải quyết. Ngoài ra, mệt mỏi trầm trọng khiến quý vị không hoàn toàn tham gia hoạt động ở nhà, làm việc hay trường học có thể là một triệu chứng của một vấn đề y tế cơ bản.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Nguyên nhân</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Trong số các bệnh mãn tính, hội chứng mệt mỏi kinh niên là một trong những bí ẩn nhất. Một số nguyên nhân có thể đã được đề xuất, bao gồm:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Trầm cảm.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Thiếu máu thiếu sắt.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Lượng đường huyết thấp (hạ đường huyết).</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Lịch sử của bệnh dị ứng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Virus lây nhiễm, như Epstein &#8211; Barr virus hoặc herpesvirus 6.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Rối loạn chức năng trong hệ thống miễn dịch.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Thay đổi trong mức độ kích thích tố sản xuất tại các vùng dưới đồi, tuyến yên hoặc tuyến thượng thận.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Huyết áp thấp mạn tính (hạ huyết áp).</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Một quá trình tự miễn dịch gây viêm của một số thần kinh, hệ thống.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Nhiễm virus phức tạp bởi một phản ứng miễn dịch khác thường.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Huyết áp thấp gây ra các rối loạn và ngất xỉu phản xạ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Các triệu chứng tương tự như của hội chứng mệt mỏi mãn tính đôi khi đơn giản, sửa chữa nguyên nhân, chẳng hạn như:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Hoạt động thường dẫn đến mệt mỏi.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Tác dụng phụ của thuốc..</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Yếu tố nguy cơ</strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Phụ nữ được chẩn đoán bị hội chứng mệt mỏi mãn tính thường ít nhất bốn lần, nhưng quan hệ tình dục không phải là một yếu tố nguy cơ đã được chứng minh cho điều kiện này. Nó có thể rằng phụ nữ chỉ đơn giản là có nhiều khả năng thông báo các triệu chứng của mình với bác sĩ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Tình trạng này là phổ biến nhất ở những người trong độ tuổi 40 và 50, nhưng nó có thể ảnh hưởng đến người dân của tất cả các lứa tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Bởi vì nguyên nhân của tình trạng không rõ, các bác sĩ vẫn chưa xác định và xác nhận yếu tố nguy cơ nhất định cho căn bệnh này.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Các biến chứng</strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Có thể có biến chứng của hội chứng mệt mỏi mãn tính bao gồm:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Trầm cảm, liên quan cả tới các triệu chứng và chẩn đoán thiếu.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Phản ứng phụ và tác dụng phụ liên quan đến phương pháp điều trị thuốc.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Phản ứng phụ và phản ứng phụ liên kết với thiếu hoạt động.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Cô lập xã hội gây ra bởi sự mệt mỏi.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Phong cách sống hạn chế.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Thiếu công việc.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Các xét nghiệm và chẩn đoán</strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Để đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán của hội chứng mệt mỏi mãn tính, phải có không giải thích được mệt mỏi kéo dài cho sáu tháng trở lên, cùng với ít nhất bốn trong số tám dấu hiệu chính và triệu chứng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Dấu hiệu và triệu chứng của tiểu CFS bao gồm:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Mất trí nhớ hoặc tập trung.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Viêm họng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Đau đớn và lan tới các hạch bạch huyết ở cổ hoặc nách.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Không giải thích được cơ bắp đau.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Đau mà di chuyển từ một nơi khác mà không sưng hoặc tấy đỏ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Nhức đầu của một loại mới, mô hình hay mức độ nghiêm trọng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Ngủ không ngon giấc.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Kiệt sức kéo dài hơn 24 giờ sau khi tập thể dục thể chất hoặc tâm thần.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Không có quy trình chẩn đoán hoặc phòng thí nghiệm để xác nhận sự hiện diện của hội chứng mệt mỏi mãn tính. Chẩn đoán này dựa trên loại trừ. Điều này có nghĩa là trước khi đến chẩn đoán, bác sĩ đã loại trừ các bệnh khác cũng như các quy định hoặc điều kiện đó có thể gây ra mệt mỏi và các triệu chứng liên quan. Điều kiện bác sĩ có thể loại trừ hoặc xác định là yếu tố góp phần sớm bao gồm:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Thấp mức hormone tuyến giáp (suy giáp).</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Ngưng thở khi ngủ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Trầm cảm.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Rối loạn ăn uống.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Một tái phát của một căn bệnh được điều trị trước đó, chẳng hạn như ung thư.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Béo phì, được xác định bởi một chỉ số khối cơ thể (BMI ) là 40 hoặc cao hơn.</p>
<h3 style="text-align: justify;" align="center">Phương pháp điều trị và thuốc</h3>
<p style="text-align: justify;" align="center">Không có cụ thể điều trị hội chứng mệt mỏi . Nhìn chung, các bác sĩ nhằm mục đích làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng bằng cách sử dụng một sự kết hợp phương pháp điều trị, có thể bao gồm:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Điều hành hoạt động hàng ngày.</strong> Bác sĩ có thể khuyên nên chậm lại và để tránh quá nhiều căng thẳng về thể chất và tâm lý. Tuy nhiên, quá nhiều phần còn lại có thể làm cho yếu hơn, các triệu chứng xấu đi lâu dài. Mục tiêu nên được để duy trì một mức độ vừa phải của các hoạt động hàng ngày và nhẹ nhàng tăng sức chịu đựng theo thời gian.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Tập thể dục dần dần.</strong> Với sự giúp đỡ của một bác sĩ chuyên khoa vật lý, có thể được tư vấn để bắt đầu một chương trình tập thể dục mà từ từ trở nên khó khăn hơn. Nghiên cứu đã chứng minh rằng tập thể dục có thể tăng dần cải thiện các triệu chứng của hội chứng mệt mỏi mãn tính.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Nhận thức hành vi liệu pháp.</strong> Điều này điều trị thường sử dụng kết hợp với tập thể dục, cũng đã được tìm thấy để cải thiện các triệu chứng của hội chứng mệt mỏi mãn tính. Trong liệu pháp hành vi nhận thức, làm việc với một nhà cung cấp sức khỏe tâm thần để xác định niềm tin tiêu cực và hành vi trì hoãn thay thế bằng sự lành mạnh, tích cực.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Điều trị trầm cảm.</strong> Nếu đang chán nản, thuốc chống trầm cảm tricyclic và chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRIs) có thể giúp đỡ. Thuốc chống trầm cảm cũng có thể giúp cải thiện giấc ngủ và giảm đau. Thông thường theo quy định bao gồm các thuốc chống trầm cảm amitriptylin (Amitid, Amitril), desipramine (Norpramin) và nortriptyline (Aventyl, Pamelor). SSRIs bao gồm fluoxetine (Prozac, Sarafem), paroxetin (Paxil) và sertraline (Zoloft).</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Điều trị đau hiện tại.</strong> Acetaminophen và các thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) như aspirin và ibuprofen có thể hữu ích để giảm đau và sốt.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Điều trị các vấn đề về giấc ngủ.</strong> Thay đổi thói quen ngủ có thể đủ để giúp bắt đầu nhận được giấc ngủ ban đêm phục hồi. Nhưng nếu kỹ thuật như gắn bó với một giờ đi ngủ thường xuyên, bỏ qua những giấc ngủ ngắn vào ban ngày, và tránh các chất như caffeine và rượu, bác sĩ có thể kê toa ngắn thuốc ngủ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Điều trị các triệu chứng dị ứng.</strong> Thuốc kháng histamin như fexofenadine (Allegra) và cetirizine (Zyrtec), và thuốc thông mũi có chứa pseudoephedrine (Sudafed) có thể làm giảm triệu chứng dị ứng như như chảy nước mũi.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Điều trị huyết áp thấp</strong>. Các fludrocortisone (Florinef) và atenolol (Tenormin) có thể hữu ích cho những người nhất định với hội chứng mệt mỏi mãn tính.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Điều trị cho các vấn đề của hệ thần kinh.</strong> Các triệu chứng như chóng mặt và đau da đôi khi có thể được thuyên giảm bằng clonazepam (Klonopin). Bác sĩ có thể kê toa cho thuốc như lorazepam (ATIVAN) và alprazolam (Xanax) để làm giảm triệu chứng lo âu.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Thử nghiệm phương pháp điều trị</strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Nghiên cứu nhằm tìm ra phương pháp trị liệu mới cho hội chứng mệt mỏi mãn tính bao gồm các nghiên cứu về các loại thuốc sau đây:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Methylphenidate (Ritalin, Concerta).</strong> Psychostimulant này xuất hiện để thúc đẩy và cân bằng của các hóa chất trong não gọi là dẫn truyền thần kinh. Nó thường được sử dụng để điều trị rối loạn attention &#8211; deficit/hyperactivity ( ADHD ). Một nghiên cứu cho thấy rằng methylphenidate giảm bớt mệt mỏi và tập trung cải thiện ở một số người bị hội chứng mệt mỏi mãn tính.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Corticosteroid.</strong> Một số nghiên cứu đã tìm thấy rằng uống hydrocortisone có thể cải thiện triệu chứng của hội chứng mệt mỏi mãn tính, trong khi các nghiên cứu khác đã tìm thấy không có lợi ích.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Globulin miễn dịch và interferon.</strong> Các loại thuốc này được sử dụng để tăng khả năng hệ thống miễn dịch để chống nhiễm trùng. Các nghiên cứu đã không tìm thấy thống nhất có hiệu quả trong điều trị hội chứng mệt mỏi mãn tính, và một số người tham gia đã có tác dụng phụ nghiêm trọng.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Thuốc kháng siêu vi.</strong> Các kết nối có thể có giữa hội chứng mệt mỏi mãn tính và virus Epstein &#8211; Barr đã dẫn các nhà nghiên cứu kiểm tra xem loại thuốc kháng virus mạnh mẽ có thể cải thiện các triệu chứng của hội chứng mệt mỏi mãn tính. Cách tiếp cận này đã không tìm thấy có hiệu quả, và kết nối giữa Epstein &#8211; Barr virus và hội chứng mệt mỏi mãn tính từ đó đã được bác bỏ.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Ức chế cholinesterase.</strong> Các thuốc này nâng cao hiệu quả của acetylcholine, một hoá học mà được cho là quan trọng đối với trí nhớ, suy nghĩ và hành vi. Galantamine được sử dụng trong điều trị bệnh Alzheimer, nhưng nó đã không tìm thấy có lợi cho hội chứng mệt mỏi mãn tính.</p>
<h3 style="text-align: justify;" align="center"><strong>Phong cách sống và biện pháp khắc phục tại nhà</strong></h3>
<p style="text-align: justify;" align="center">Học làm thế nào để quản lý mệt mỏi có thể giúp cải thiện mức độ về chức năng và chất lượng sống mặc dù có các triệu chứng. Có thể làm việc với một chuyên gia y học phục hồi chức năng, người có thể dạy làm thế nào để lập kế hoạch hoạt động.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Tự chăm sóc, những bước quan trọng có thể giúp duy trì tốt sức khỏe tổng quát:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Giảm căng thẳng.</strong> Phát triển một kế hoạch để tránh hoặc hạn chế cố gắng quá sức và căng thẳng cảm xúc. Cho phép bản thân có thời gian mỗi ngày để thư giãn. Điều đó có nghĩa là học cách nói &#8220;không&#8221; mà không có tội lỗi.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Có đủ giấc ngủ.</strong> Bắt đủ giấc ngủ là cần thiết. Ngoài phân chia đủ thời gian cho giấc ngủ, thực hành thói quen ngủ tốt, chẳng hạn như đi ngủ và thức dậy cùng một giờ mỗi ngày và hạn chế ngủ trưa.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Tập thể dục thường xuyên.</strong> Có thể cần phải bắt đầu từ từ và xây dựng dần dần. Nhưng thường xuyên tập thể dục cải thiện triệu chứng. Nhiều người tìm thấy các bài tập như đi bộ, bơi lội, đạp xe và thể dục nhịp điệu nước có thể hữu ích. Một liệu pháp vật lý có thể giúp phát triển một chương trình tập thể dục. Duỗi, tư thế tốt và bài tập thư giãn cũng có thể hữu ích.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Cường độ hoạt động.</strong> Giữ hoạt động trên cấp độ ổn định. Nếu làm quá nhiều vào những ngày này, có thể có những ngày khác xấu hơn.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Duy trì một lối sống lành mạnh.</strong> Hãy cố gắng ăn một chế độ ăn uống cân bằng, uống nhiều nước, hạn chế lượng caffeine, hút thuốc phải dừng lại, nghỉ ngơi đầy đủ và tập thể dục thường xuyên.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Thuốc thay thế</strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Nhiều phương pháp điều trị thay thế đã được phát huy cho hội chứng mệt mỏi mãn tính, nhưng ít được đánh giá trong các thử nghiệm lâm sàng. Trong số những người đã được nghiên cứu mà có thể cung cấp lợi ích cho CFS bao gồm.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>D &#8211; ribose.</strong> Cũng được gọi là ribose, là một nguồn năng lượng cần thiết cho các tế bào. Các nhà khoa học tin rằng suy chuyển hóa tế bào, một số loại rối loạn trong cách thức các tế bào làm việc, có thể đóng một vai trò trong hội chứng mệt mỏi mãn tính. Một số nghiên cứu đã tìm thấy rằng chất bổ sung tự nhiên D &#8211; ribose có thể cải thiện đáng kể năng lượng và kết hợp giảm đau với hội chứng mệt mỏi mãn tính.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Châm cứu.</strong> Châm cứu đã được đánh giá là một điều trị cho các triệu chứng của bệnh đau cơ xơ, một bệnh được coi là tương tự như CFS và cũng là đặc trưng bởi sự mệt mỏi và đau nhức cơ bắp. Nghiên cứu cho rằng châm cứu có thể làm giảm mệt mỏi, đau đớn, lo lắng và các triệu chứng khác liên quan đến CFS.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Các liệu pháp bổ sung mà có thể làm giảm lo âu và phát huy tốt ở những người bị hội chứng mệt mỏi mãn tính bao gồm:</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Kỹ thuật thở sâu và thư giãn cơ bắp.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Thiền.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Massage.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">- Các liệu pháp như kéo giãn, yoga.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Sản phẩm tự nhiên không có nghĩa là an toàn </strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Các nhà sản xuất bổ sung các chế độ ăn uống và các biện pháp thảo dược yêu cầu bù các chất này có những lợi ích tiềm năng cho những người có CFS. Tuy nhiên, trong hầu hết trường hợp, hiệu quả của liệu pháp này chưa được chứng minh trong các nghiên cứu có kiểm soát.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Mặc dù một sản phẩm có thể có &#8220;nguồn gốc&#8221; thiên nhiên, mà nguồn gốc không đảm bảo an toàn của nó. Thức ăn bổ sung và các chế phẩm thảo dược có thể có tác dụng phụ có hại và nguy hiểm có thể ảnh hưởng hoặc tương tác với thuốc theo toa.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Nói chuyện với bác sĩ trước khi sử dụng bất kỳ biện pháp khắc phục hoặc liệu pháp bổ sung không cần toa.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Đối phó và hỗ trợ</strong></p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Kinh nghiệm của hội chứng mệt mỏi mãn tính khác nhau từ người sang người. Đối với nhiều người, tuy nhiên, các triệu chứng khó chịu hơn trong quá trình đầu của bệnh và sau đó dần dần giảm. Một số người hồi phục hoàn toàn với thời gian. Cảm xúc hỗ trợ và tư vấn và những người thân yêu có thể giúp đối phó với các bất trắc và những hạn chế của hội chứng mệt mỏi mãn tính.</p>
<p style="text-align: justify;" align="center">Có thể tìm thấy để tham gia một nhóm hỗ trợ và đáp ứng những người khác với hội chứng mệt mỏi mãn tính. Các nhóm hỗ trợ không phải cho mọi người, và có thể thấy rằng một nhóm hỗ trợ thêm vào stress hơn là làm giảm nó. Thử nghiệm và sử dụng của riêng bản thân để xác định những gì tốt nhất.</p>
<p style="text-align: right;"><strong>Theo Dieutri.vn</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suckhoe365.net/2011/11/m%e1%bb%87t-m%e1%bb%8fi-man-tinh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Mệt mỏi mạn tính, vì sao?</title>
		<link>http://suckhoe365.net/2011/11/m%e1%bb%87t-m%e1%bb%8fi-m%e1%ba%a1n-tinh-vi-sao/</link>
		<comments>http://suckhoe365.net/2011/11/m%e1%bb%87t-m%e1%bb%8fi-m%e1%ba%a1n-tinh-vi-sao/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 16 Nov 2011 03:38:06 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thần kinh - Tâm thần]]></category>
		<category><![CDATA[bắp thịt]]></category>
		<category><![CDATA[gan]]></category>
		<category><![CDATA[Mệt mỏi mạn tính]]></category>
		<category><![CDATA[mô mỡ]]></category>
		<category><![CDATA[Rối loạn tuyến yên]]></category>
		<category><![CDATA[tăng cường tập thể dục]]></category>
		<category><![CDATA[xương]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suckhoe365.net/?p=13641</guid>
		<description><![CDATA[Mệt mỏi mạn tính là tình trạng mệt mỏi kéo dài quá 6 tháng, gây ảnh hưởng xấu tới các sinh hoạt hằng ngày. Đặc điểm của bệnh này là: cơ thể luôn trong tình trạng mệt mỏi, dù được nghỉ và ngủ cũng không thuyên giảm; sự mệt mỏi không do làm việc hay [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><em><strong>Mệt mỏi mạn tính là tình trạng mệt mỏi kéo dài quá 6 tháng, gây ảnh hưởng xấu tới các sinh hoạt hằng ngày. Đặc điểm của bệnh này là: cơ thể luôn trong tình trạng mệt mỏi, dù được nghỉ và ngủ cũng không thuyên giảm; sự mệt mỏi không do làm việc hay luyện tập nặng nhọc gây ra và cũng không phải do bệnh tật.</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Ai dễ mắc bệnh mệt mỏi mạn tính?</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Mệt mỏi mạn tính là hội chứng khá phổ biến ở các quốc gia có nền công nghiệp phát triển. Tuy đã có nhiều nghiên cứu, nhưng đến nay hội chứng này vẫn được coi như là một bệnh mạn tính có nhiều điều chưa được biết. Khác với các bệnh nhiễm khuẩn vì hội chứng này không do một vi khuẩn nào gây ra. Không giống như bệnh tiểu đường, bệnh thiếu hồng cầu vì mệt mỏi mạn tính không thể đo lường. Bệnh chưa có phương pháp nào điều trị hiệu quả. Bệnh gặp nhiều ở nữ hơn nam, nhất là nữ giới có kinh nguyệt bất thường bị chứng này nhiều hơn. Độ tuổi mắc bệnh nhiều là từ 20 &#8211; 50 tuổi. Đối tượng dễ mắc bệnh là những người có kiến thức tương đối cao, hiểu biết nhiều về bệnh tật.</p>
<div style="text-align: center;" align="center">
<table cellspacing="5" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td align="center">
<div>
<div><a href="http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2011/11/M%E1%BB%87t-m%E1%BB%8Fi-m%E1%BA%A1n-t%C3%ADnh.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-13643" title="Mệt mỏi mạn tính" src="http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2011/11/M%E1%BB%87t-m%E1%BB%8Fi-m%E1%BA%A1n-t%C3%ADnh.jpg" alt="" width="400" height="296" /></a> Tập dưỡng sinh tăng sức khỏe giúp giảm mệt mỏi.</div>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</div>
<p style="text-align: justify;"><strong>Mệt mỏi do virut?</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Người ta cho rằng mệt mỏi mạn tính là tổng hợp của nhiều yếu tố gây ra. Tuy nhiên, cũng có một số bệnh gây mệt mỏi như: thiếu hồng cầu, tăng huyết áp, tiểu đường, u tuyến giáp, thấp khớp, viêm cơ tim, bệnh trầm cảm&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Một số yếu tố liên quan đến bệnh gồm: viêm não, rối loạn sự điều hòa giấc ngủ, thần kinh bị căng thẳng, cấu tạo vùng dưới đồi (hypothalamus) bị rối loạn; giảm nồng độ t cortisol&#8230; Nhiễm độc, nhất là do virut gây nên. Giảm sức đề kháng của cơ thể do hệ miễn dịch bị tổn thương. Hạ huyết áp tư thế do rối loạn hệ thần kinh làm cho nhịp tim chậm, huyết áp giảm, máu dồn xuống chân, gây ra chóng mặt, buồn nôn, ngất. Suy nhược cơ thể, teo cơ hoặc loãng xương. Những trường hợp bị rối loạn hô hấp, hơi thở nhanh, nông, căng thẳng quá mức, bị bệnh hen suyễn, tức ngực, tê đầu ngón chân tay vì thiếu ôxy. Bị stress lâu ngày, căng thẳng thần kinh, rối loạn tuần hoàn não. Nhiễm khuẩn, nhất là nhiễm virut. Tác dụng phụ của một số thuốc chữa bệnh như thuốc điều trị tăng huyết áp, thuốc hạ nhiệt giảm đau, thuốc tâm thần, thuốc chống dị ứng&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Các dấu hiệu cần lưu ý</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Bệnh nhân thấy luôn luôn bị mệt mỏi kèm theo các dấu hiệu sau đây: giảm hoặc mất trí nhớ đối với các sự việc xảy ra gần đây, kém tập trung vào công việc, học tập và nói chung là mọi sinh hoạt; đau họng thường xuyên; nổi hạch ở cổ, cằm, nách; đau nhức mỏi toàn thân; có thể có một số khớp bị đau nhưng không sưng nóng đỏ; luôn bị nhức đầu và nhiều khi nhức rất nặng; cơ thể mệt mỏi rã rời suốt ngày sau khi làm bất cứ việc gì mà phải gắng sức. Ngủ không ngon, giấc ngủ không sâu, muốn ngủ suốt ngày. Kết quả xét nghiệm thường không có gì đặc biệt và hầu như không có rối loạn gì. Bệnh cần phân biệt với một số bệnh như: trầm cảm, nhiễm độc, mang thai, mất ngủ, thần kinh luôn bị căng thẳng, luôn làm việc quá sức, tiếp xúc với hóa chất môi trường độc hại, nghiện rượu, sử dụng chất ma túy&#8230; Vì vậy, khi bạn bị mệt mỏi kéo dài cả tháng không bớt thì cần đi khám bệnh. Có nhiều trường hợp bệnh nhân phải nằm liệt giường vì không còn sức di chuyển, sinh hoạt. Những trường hợp nhẹ, bệnh nhân cũng không hoàn thành công việc hàng ngày một cách bình thường. Nhiều bệnh nhân than phiền là làm việc mà tâm trí để ở đâu đâu, không tập trung được vào công việc hoặc không làm được việc có tính chất tỉ mỉ. Có bệnh nhân tự cô lập, giảm mọi sinh hoạt, sống trong tình trạng trầm buồn, ưu phiền lo lắng.</p>
<p style="text-align: justify;">Chẩn đoán bệnh dựa vào các biểu hiện chính là bệnh nhân thấy luôn luôn bị mệt mỏi, các dấu hiệu, tiền sử cá nhân, gia đình và các thuốc bệnh nhân đã và đang sử dụng.</p>
<div style="text-align: center;" align="center">
<table cellspacing="5" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td align="center">
<div>
<div><img src="http://img.suckhoedoisong.vn/Images/Uploaded/Share/2010/10/07/54515176-a.JPG" alt="" width="400" /></div>
</div>
<div> Rối loạn tuyến yên, gan, xương, mô mỡ, bắp thịt là các yếu tố liên quan</div>
<div>đến hội chứng mệt mỏi mạn tính.</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</div>
<p style="text-align: justify;"><strong>Chữa trị và phòng bệnh </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Cho đến nay vẫn chưa có phương thức điều trị nào hữu hiệu đối với bệnh mệt mỏi mạn tính. Bệnh nhân cần được hướng dẫn thực hiện một chế độ tập luyện thể lực vừa phải thích hợp với từng người, kết hợp với ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng để nâng cao sức khỏe, hạn chế bệnh tật. Người bệnh cần có trạng thái tinh thần luôn luôn thoải mái, tĩnh tâm. Công việc chỉ nên lao động nhẹ nhàng vừa sức. Về điều trị, thầy thuốc có thể cho dùng các loại thuốc an thần, giảm đau để làm bớt đau đớn thể xác và tinh thần. Các phương pháp y học cổ truyền như châm cứu, dùng thuốc nam, vật lý trị liệu, tập yoga, khí công dưỡng sinh, thiền có thể có tác dụng tốt trong nhiều trường hợp.</p>
<p style="text-align: justify;">Cách phòng bệnh tốt nhất là phải phát hiện và điều trị triệt để các bệnh: viêm não, mất ngủ, các bệnh nhiễm khuẩn, hen suyễn&#8230;, tránh các việc làm cho thần kinh bị căng thẳng. Không tự ý mua thuốc chữa bệnh để tránh tác dụng phụ của một số thuốc có thể gây mệt mỏi như thuốc điều trị tăng huyết áp, giảm đau, thuốc hướng thần, thuốc chống dị ứng&#8230;</p>
<p style="text-align: right;" align="right"><strong>BS. Trần Thanh Tâm</strong> &#8211; Theo suckhoedoisong</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suckhoe365.net/2011/11/m%e1%bb%87t-m%e1%bb%8fi-m%e1%ba%a1n-tinh-vi-sao/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chứng ngủ rũ</title>
		<link>http://suckhoe365.net/2011/11/ch%e1%bb%a9ng-ng%e1%bb%a7-ru/</link>
		<comments>http://suckhoe365.net/2011/11/ch%e1%bb%a9ng-ng%e1%bb%a7-ru/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 16 Nov 2011 03:22:01 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thần kinh - Tâm thần]]></category>
		<category><![CDATA[Chứng ngủ rũ]]></category>
		<category><![CDATA[hypocretin]]></category>
		<category><![CDATA[lao động]]></category>
		<category><![CDATA[tập thể thao]]></category>
		<category><![CDATA[thói quen xấu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suckhoe365.net/?p=13632</guid>
		<description><![CDATA[Các đặc điểm chính của chứng ngủ rũ là quá buồn ngủ và không thể kiểm soát cần ngủ trong ngày. Những người bị chứng ngủ rũ rơi vào giấc ngủ mà không có cảnh báo, bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào. Chứng ngủ rũ là một rối loạn giấc ngủ mãn tính [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div id="ctl04_Detail" style="text-align: justify;">
<p><em><strong>Các đặc điểm chính của chứng ngủ rũ là quá buồn ngủ và không thể kiểm soát cần ngủ trong ngày. Những người bị chứng ngủ rũ rơi vào giấc ngủ mà không có cảnh báo, bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào.</strong></em></p>
<div>
<p>Chứng ngủ rũ là một rối loạn giấc ngủ mãn tính đặc trưng bởi buồn ngủ ban ngày quá nhiều và các cuộc tấn công bất ngờ của giấc ngủ. Những người bị chứng ngủ rũ thường cảm thấy khó khăn để ở tỉnh táo trong thời gian dài của thời gian, bất kể trường hợp nào. Chứng ngủ rũ có thể gây ra sự gián đoạn nghiêm trọng trong thói quen hàng ngày.</p>
<p><a href="http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2011/11/Ch%E1%BB%A9ng-ng%E1%BB%A7-r%C5%A9.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-13634" title="Chứng ngủ rũ" src="http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2011/11/Ch%E1%BB%A9ng-ng%E1%BB%A7-r%C5%A9.jpg" alt="" width="360" height="248" /></a></p>
<p>Trái ngược với những gì một số người tin rằng, chứng ngủ rũ không liên quan đến trầm cảm, rối loạn co giật, ngất, thiếu ngủ hoặc của các điều kiện đơn giản khác có thể gây ra giấc ngủ không bình thường.</p>
<p>Chứng ngủ rũ là một tình trạng mãn tính mà không có cách chữa bệnh. Tuy nhiên, thuốc và thay đổi lối sống có thể giúp quản lý các triệu chứng. Nói chuyện với những người khác &#8211; gia đình, bạn bè, sử dụng lao động, giáo viên có thể giúp đối phó với chứng ngủ rũ.</p>
<h4>I. CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA CHỨNG NGỦ RŨ:</h4>
<p>Các triệu chứng của chứng ngủ rũ có thể xấu đi trong vài năm đầu tiên, và sau đó tiếp tục cho cuộc sống. Chúng bao gồm:</p>
<p><strong>Buồn ngủ quá mức vào ban ngày</strong></p>
<p>Các đặc điểm chính của chứng ngủ rũ là quá buồn ngủ và không thể kiểm soát cần ngủ trong ngày. Những người bị chứng ngủ rũ rơi vào giấc ngủ mà không có cảnh báo, bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào. Ví dụ, có thể đột nhiên gật đầu ra trong khi làm việc hoặc nói chuyện với bè. Có thể ngủ trong vài phút hoặc đến nửa giờ trước khi thức dậy và cảm giác làm mới, nhưng cuối cùng rơi vào giấc ngủ trở lại. Cũng có thể bị giảm sự tỉnh táo trong ngày. Buồn ngủ ban ngày quá mức thường là triệu chứng đầu tiên xuất hiện và thường phiền hà nhất, gây khó khăn tập trung và chức năng đầy đủ.</p>
<p><strong>Đột ngột mất trương lực cơ</strong></p>
<p>Điều kiện này, được gọi là cataplexy, có thể gây ra một số thay đổi về thể chất, từ bài phát biểu hoàn thành líu nhíu đến điểm yếu của hầu hết các cơ bắp, và có thể kéo dài vài giây đến vài phút. Cataplexy không thể kiểm soát và thường gây ra bởi cảm xúc mãnh liệt, thường là những người tích cực như là tiếng cười hay phấn khích, nhưng đôi khi nỗi sợ hãi bất ngờ, hoặc tức giận. Ví dụ, đầu có thể sụp xuống không thể kiểm soát hoặc đầu gối đột nhiên có thể khụy xuống khi cười. Một số người có trải nghiệm chứng ngủ rũ chỉ có một hoặc hai đợt một năm cataplexy, trong khi những người khác có nhiều hàng ngày.</p>
<p><strong>Giấc ngủ bị tê liệt</strong></p>
<p>Những người có chứng ngủ rũ thường trải nghiệm một sự bất lực tạm thời để di chuyển hoặc nói chuyện trong khi ngủ hoặc khi thức dậy. Các cơn thường ngắn &#8211; kéo dài một hoặc hai phút nhưng có thể đáng sợ. Có thể biết về điều kiện và không khó khăn nhớ lại nó sau đó, ngay cả khi đã không kiểm soát được những gì đã xảy ra với. Điều liệt ngủ bắt chước các loại tê liệt tạm thời thường xảy ra trong khi mắt chuyển động nhanh (REM) ngủ, giai đoạn của giấc ngủ, trong đó hầu hết mơ xuất hiện. Điều này bất động tạm thời trong thời gian giấc ngủ REM có thể ngăn chặn cơ thể từ diễn ra hoạt động giấc mơ. Không phải tất cả mọi người với tình trạng tê liệt ngủ đã chứng ngủ rũ, tuy nhiên. Nhiều người không có chứng ngủ rũ trải nghiệm liệt ngủ, đặc biệt là ở tuổi trưởng thành trẻ tuổi.</p>
<p><strong>Ảo giác</strong></p>
<p>Những ảo giác, được gọi là ảo giác hypnagogic, có thể xảy ra một cách nhanh chóng vào giấc ngủ REM, khi lần đầu tiên rơi vào giấc ngủ, hoặc khi thức dậy. Bởi vì có thể semiawake khi bắt đầu mơ mộng, gặp những giấc mơ như là thực tế, và họ có thể đặc biệt sống động và đáng sợ.</p>
<p><strong>Các đặc tính khác</strong></p>
<p>Những người bị chứng ngủ rũ có thể có rối loạn giấc ngủ khác, chẳng hạn như ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ, trong đó thở bắt đầu và dừng lại trong suốt đêm, hội chứng chân bồn chồn và ngay cả mất ngủ. Những người bị chứng ngủ rũ cũng có thể làm ra những giấc mơ của họ vào ban đêm bởi vung vẩy cánh tay của họ hoặc đá và la hét.</p>
<p>Một số đoạn của giấc ngủ là cuộc tấn công ngắn. Một số người có hành vi chứng ngủ rũ trải nghiệm tự động trong những tập ngắn. Ví dụ, có thể rơi vào giấc ngủ trong khi thực hiện một công việc thường thực hiện, chẳng hạn như văn bản, đánh máy, lái xe, và tiếp tục hoạt động trong khi ngủ. Khi thức dậy, không thể nhớ những gì đã làm, và có lẽ đã không làm tốt việc đó.</p>
<p>Các dấu hiệu và triệu chứng của chứng ngủ rũ có thể bắt đầu bất cứ lúc nào lên đến tuổi 50 của mình, nhưng họ thường bắt đầu trong độ tuổi từ 10 và 25. Triệu chứng thường là nặng hơn cho những người phát triển chúng sớm trong cuộc sống, thay vì ở tuổi trưởng thành.</p>
<p><strong>Đến gặp bác sĩ khi</strong></p>
<p>Khám bác sĩ nếu có trải nghiệm quá buồn ngủ ban ngày mà phá vỡ cuộc sống.</p>
<h4>II. NGUYÊN NHÂN CỦA CHỨNG NGỦ RŨ:</h4>
<p>Nguyên nhân chính xác của chứng ngủ rũ là không biết đến. Di truyền học có thể đóng một vai trò. Các yếu tố khác, chẳng hạn như stress, nhiễm trùng hoặc tiếp xúc với chất độc, có thể góp phần vào sự phát triển của chứng ngủ rũ.</p>
<p>Giấc ngủ bình thường so với mô hình chứng ngủ rũ</p>
<p>Quá trình bình thường đi vào giấc ngủ bắt đầu với một giai đoạn được gọi là mắt chuyển động nhanh (NREM) ngủ. Trong giai đoạn này, sóng não chậm đáng kể. Sau một giờ hoặc hai của NREM ngủ, hoạt động não chọn lên một lần nữa, và giấc ngủ REM bắt đầu. Hầu hết mơ xuất hiện trong giấc ngủ REM.</p>
<p>Trong chứng ngủ rũ, tuy nhiên, đột nhiên có thể đi vào giấc ngủ mà không ngủ NREM gặp đầu tiên, cả hai đều vào ban đêm và trong ngày. Một số đặc điểm của giấc ngủ REM, chẳng hạn như thiếu bất ngờ của trương lực cơ, liệt ngủ và những giấc mơ sinh động, xảy ra trong giai đoạn ngủ khác ở những người bị chứng ngủ rũ.</p>
<p><strong>Vai trò của các hóa chất trong não</strong></p>
<p>Hypocretin là một hóa chất quan trọng trong bộ não giúp điều chỉnh sự tỉnh táo và ngủ REM. Những người bị chứng ngủ rũ có các mức thấp của thần kinh này trong dịch tủy sống của họ. Đặc biệt thấp ở những người trải nghiệm cataplexy. Chính xác những gì gây ra sự mất mát của các tế bào sản xuất hypocretin trong não là không biết đến, nhưng các chuyên gia nghi ngờ đó là do một phản ứng tự miễn dịch.</p>
<h3>III. CÁC BIẾN CHỨNG CỦA CHỨNG NGỦ RŨ:</h3>
<p><strong>Sự hiểu lầm của các điều kiện</strong></p>
<p>Chứng ngủ rũ có thể gây ra vấn đề nghiêm trọng cho các đồng nghiệp nghiệp và cá nhân. Người khác có thể coi là lười biếng, lơ mơ hoặc thô lỗ. Hiệu suất có thể bị ảnh hưởng ở trường học hay công việc.</p>
<p><strong>Can thiệp với các mối quan hệ thân mật</strong></p>
<p>Quá buồn ngủ có thể gây ra tình dục thấp hoặc bất lực, và những người có chứng ngủ rũ thậm chí có thể rơi vào giấc ngủ, trong khi quan hệ tình dục. Những vấn đề gây ra bởi rối loạn chức năng tình dục có thể được tiếp tục khó khăn phức tạp của cảm xúc. Cảm xúc thật mạnh, chẳng hạn như sự giận dữ hay vui mừng, có thể gây ra một số dấu hiệu của chứng ngủ rũ như cataplexy, khiến bị ảnh hưởng để thu hồi từ các tương tác tình cảm.</p>
<p><strong>Tổn hại</strong></p>
<p>Sleep cuộc tấn công giấc ngủ có thể gây tổn hại về vật chất cho những người có chứng ngủ rũ. Có nguy cơ tai nạn xe hơi nếu có một cuộc tấn công trong khi lái xe. Nguy cơ của vết cắt và vết bỏng là lớn hơn nếu rơi vào giấc ngủ trong khi chuẩn bị thức ăn.</p>
<p><strong>Các xét nghiệm và chẩn đoán</strong></p>
<p>Bác sĩ có thể thực hiện một chẩn đoán sơ bộ của chứng ngủ rũ vào ban ngày dựa trên buồn ngủ quá nhiều và mất đột ngột của trương lực cơ (cataplexy). Sau khi chẩn đoán ban đầu, bác sĩ có thể giới thiệu đến một chuyên gia về giấc ngủ để đánh giá thêm.</p>
<p>Chính thức chẩn đoán có thể yêu cầu ở lại qua đêm tại một trung tâm giấc ngủ, nơi trải qua một phân tích chuyên sâu của giấc ngủ bởi một nhóm các chuyên gia. Phương pháp chẩn đoán và xác định mức độ nghiêm trọng chứng ngủ rũ của nó bao gồm:</p>
<p><strong>Lịch sử giấc ngủ</strong></p>
<p>Bác sĩ sẽ yêu cầu một lịch sử ngủ chi tiết. Một phần của lịch sử liên quan đến việc điền vào Epworth Quy mô Buồn ngủ, trong đó sử dụng một loạt các câu hỏi ngắn để đánh giá độ buồn ngủ. Ví dụ, chỉ ra trên một quy mô được đánh số như thế nào, có thể nó sẽ là liều ra trong những tình huống nhất định, chẳng hạn như ngồi xuống sau khi ăn trưa.</p>
<p><strong>Nhật ký ngủ</strong></p>
<p>Có thể được yêu cầu giữ một cuốn nhật ký chi tiết của mô hình giấc ngủ cho một hoặc hai tuần, do đó, bác sĩ có thể so sánh mô hình ngủ và sự tỉnh táo là liên quan như thế nào. Thông thường, ngoài việc đăng nhập ngủ, bác sĩ sẽ yêu cầu phải đeo một actigraph. Thiết bị này có dáng vẻ và cảm giác của một đồng hồ đeo tay và các biện pháp khi ngủ như thế nào.</p>
<p><strong>Polysomnogram </strong></p>
<p>Các biện pháp này kiểm tra một loạt các tín hiệu trong khi ngủ bằng cách sử dụng các điện cực đặt trên da đầu. Đối với thử nghiệm này, phải qua một đêm tại một cơ sở y tế. Các biện pháp thử nghiệm hoạt động điện của não bộ (electroencephalogram) và trái tim (điện) và chuyển động của cơ bắp (electromyogram) và mắt (electro-oculogram). Nó cũng theo dõi hơi thở.</p>
<p><strong>Thử nghiệm độ trễ giấc ngủ</strong></p>
<p>Các biện pháp này kiểm tra bao lâu nó sẽ ngủ thiếp đi trong ngày. Sẽ được yêu cầu để có bốn hoặc năm giấc ngủ, mỗi giấc ngủ hai giờ xa nhau. Các chuyên gia sẽ thực hiện mô hình giấc ngủ. Những người bị chứng ngủ rũ rơi vào giấc ngủ dễ dàng và mắt chuyển động nhanh (REM) ngủ một cách nhanh chóng.</p>
<p>Các xét nghiệm này cũng có thể giúp các bác sĩ loại trừ các nguyên nhân khác có thể có các dấu hiệu và triệu chứng. Rối loạn giấc ngủ khác, chẳng hạn như ngưng thở khi ngủ, có thể gây buồn ngủ ban ngày quá nhiều.</p>
<p>Một thử nghiệm, bác sĩ có thể khuyên nên một thử nghiệm hypocretin, các biện pháp cấp của hypocretin trong dịch bao quanh cột sống. Hầu hết những người bị chứng ngủ rũ có các mức thấp của hóa chất não này điều chỉnh giấc ngủ REM. Một mẫu chất lỏng cột sống thu được với một chọc dò tủy sống (cột sống tap), trong đó kim được chèn vào cột sống để rút chất lỏng cột sống.</p>
<h2>IV. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ CHỨNG NGỦ RŨ:</h2>
<p>Có thuốc chữa cho chứng ngủ rũ, nhưng thuốc và thay đổi lối sống có thể giúp quản lý các triệu chứng.</p>
<p><strong>Thuốc men</strong></p>
<p>Thuốc cho chứng ngủ rũ bao gồm:</p>
<p><strong>Chất kích thích.</strong>Thuốc kích thích hệ thần kinh trung ương được điều trị chủ yếu để giúp đỡ những người có chứng ngủ rũ ở lại tỉnh táo trong ngày. Các bác sĩ thường cố gắng modafinil (Provigil) đầu tiên cho chứng ngủ rũ bởi vì nó không phải là chất kích thích gây nghiện như cũ, không tăng liều và liều thấp thường gắn liền với các chất kích thích lớn hơn. Tác dụng phụ của modafinil là không phổ biến, nhưng có thể bao gồm đau đầu, buồn nôn, khô miệng, chán ăn và tiêu chảy. Modafinil có thể làm tăng huyết áp, đặc biệt là ở liều cao. Một số người cần điều trị với methylphenidate (Concerta, Ritalin, những loại khác) hoặc chất kích thích khác nhau. Mặc dù các thuốc này có hiệu quả, chúng có thể gây ra tác dụng phụ, chẳng hạn như tim đập nhanh, căng thẳng và có thể gây nghiện.</p>
<p><strong>Hoặc các chất ức chế serotonin có chọn lọc tái hấp thu norepinephrine (SSRIs, SNRIs).</strong> Các bác sĩ thường kê đơn các loại thuốc này, bỏ giấc ngủ REM, để giúp làm giảm bớt các triệu chứng của cataplexy, ảo giác và giấc ngủ hypnagogic tê liệt. Chúng bao gồm atomoxetine (Strattera), fluoxetine (Prozac, Sarafem, những loại khác) và venlafaxine (Effexor). Các tác dụng phụ thường gặp nhất bao gồm giảm ham muốn tình dục và cực khoái bị trì hoãn. Tác dụng phụ khác có thể suy yếu dần theo thời gian. Có thể bao gồm các vấn đề tiêu hóa, bồn chồn, bất an, đau đầu và mất ngủ.</p>
<p><strong>Thuốc chống trầm cảm ba vòng.</strong> Các thuốc chống trầm cảm cũ, như protriptyline (Vivactil) và imipramine (Tofranil), có hiệu quả cho cataplexy, nhưng nhiều người phàn nàn về tác dụng phụ như khô miệng và táo bón.</p>
<p><strong>Sodium oxybate (Xyrem).</strong> Thuốc này có thể được quy định đối với cataplexy nghiêm trọng. Sodium oxybate giúp cải thiện giấc ngủ ban đêm, thường là trong chứng ngủ rũ nhẹ. Ở liều cao, nó cũng có thể giúp kiểm soát buồn ngủ ban ngày. Nó phải được thực hiện trong hai liều, một khi đi ngủ và một đến bốn giờ sau đó, và nó có thể mất 2 &#8211; 3 tháng để đạt được hiệu lực đầy đủ của nó, mặc dù lợi ích sẽ được rõ ràng sớm. Xyrem có thể có tác dụng phụ nghiêm trọng, chẳng hạn như buồn nôn, đái dầm và xấu đi của mộng du. Một liều quá cao có thể dẫn đến hôn mê, hô hấp khó khăn và cái chết.</p>
<p>Nếu có vấn đề sức khỏe khác như cao huyết áp hoặc tiểu đường, hãy hỏi bác sĩ các loại thuốc đưa cho các điều kiện khác có thể tương tác với những người bị cho chứng ngủ rũ như thế nào.</p>
<p>Một số loại thuốc kê toa, chẳng hạn như thuốc dị ứng và cảm lạnh, có thể gây buồn ngủ. Nếu có chứng ngủ rũ, bác sĩ có thể sẽ khuyên nên tránh dùng thuốc này.</p>
<p><strong>Phong cách sống và biện pháp khắc phục</strong></p>
<p>Phong cách sống thay đổi rất quan trọng trong việc quản lý các triệu chứng của chứng ngủ rũ. Có thể hưởng lợi từ các bước sau:</p>
<p><strong>Tham gia vào một lịch trình.</strong> Đi ngủ và thức dậy vào cùng một thời điểm mỗi ngày, bao gồm cả ngày nghỉ cuối tuần.</p>
<p><strong>Đi ngủ.</strong> Lịch ngủ ngắn trong khoảng thời gian thường xuyên trong ngày. Ngủ trưa 20 phút vào các thời điểm chiến lược trong ngày có thể được làm mới và giảm buồn ngủ cho 1 &#8211; 3 giờ. Một số người có thể cần ngủ lâu hơn.</p>
<p><strong>Tránh nicotin và rượu.</strong> Sử dụng các chất này, đặc biệt là vào ban đêm, có thể làm trầm trọng thêm các dấu hiệu và triệu chứng.</p>
<p><strong>Tập thể dục thường xuyên.</strong> Trung bình, thường xuyên tập thể dục ít nhất 4 &#8211; 5 giờ trước khi đi ngủ có thể giúp cảm thấy tỉnh táo vào ban ngày và ngủ tốt hơn vào ban đêm.</p>
<p><strong>Đối phó và hỗ trợ</strong></p>
<p>Đối phó với chứng ngủ rũ có thể được thử thách. Điều chỉnh trong lịch trình hàng ngày có thể giúp đỡ. Hãy xem xét những lời khuyên này:</p>
<p><strong>Thảo luận về nó</strong></p>
<p>Hãy cho chủ nhân hoặc giáo viên biết về điều kiện công việc và với họ để tìm cách để đáp ứng nhu cầu. Điều này có thể bao gồm việc giấc ngủ ngắn trong ngày, chia nhiệm vụ đơn điệu, các cuộc họp ghi âm hoặc các lớp học, đứng trong các cuộc họp hoặc các bài giảng, và đi bộ nhanh vào các thời điểm khác nhau trong ngày. Người Mỹ &#8211; Đạo luật cấm phân biệt đối xử đối với người lao động có chứng ngủ rũ và yêu cầu sử dụng lao động để cung cấp chỗ hợp lý cho người lao động đủ điều kiện.</p>
<p><strong>Được an toàn</strong></p>
<p>Nếu phải lái xe một khoảng cách dài, làm việc với bác sĩ để thiết lập một lịch trình dùng thuốc để đảm bảo khả năng lớn nhất của sự tỉnh táo trong. Ngủ và nghỉ tập thể dục bất cứ khi nào cảm thấy buồn ngủ. Không lái xe nếu cảm thấy buồn ngủ không kiểm soát tốt.</p>
<p>Các nhóm hỗ trợ và tư vấn có thể giúp và những người thân đối phó với chứng ngủ rũ. Hãy hỏi bác sĩ để giúp xác định vị trí một nhóm hoặc nhân viên tư vấn có trình độ trong khu vực.</p>
<p style="text-align: right;"><strong>Theo camnangbenh.com</strong></p>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suckhoe365.net/2011/11/ch%e1%bb%a9ng-ng%e1%bb%a7-ru/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

