GLÔCÔM – NHÃN ÁP CAO

Bệnh glôcôm là một bệnh nguy hiểm của mắt, gây ra mù lòa không hồi phục chiếm tỷ lệ rất cao trong cộng đồng. Có hai thể bệnh là glôcôm góc đóng và glôcôm góc mở. Bệnh glôcôm góc đóng hay gặp hơn ở châu Á do mắt người châu Á thường nhỏ, tiền phòng nông là điều kiện cho glôcôm góc đóng xuất hiện. Bệnh glôcôm góc mở gặp phổ biến hơn ở các nước châu Âu và châu Mỹ. Tuy nhiên dù bất cứ chủng tộc nào, tỷ lệ bệnh glôcôm ngày càng tăng dần theo tuổi tác.

Đại cương

- Là 1 bệnh cấp tính làm nhãn áp tăng cao, cần được xử trí ngay vì có khả năng gây biến chứng mù mắt.

- Bệnh có thể phát đồng thời trên cả 2 mắt nhưng đa số là 1 mắt bị trước rồi mắt kia bị Glômcôm sau 1 thời gian.

- Đặc điểm của bệnh Glôcôm là gây các tổn thương rất nặng ở hệ thống thần kinh của mắt, các tổn thương đó không hồi phục được.

- Thuộc loại Thiên Đầu Thống, Bạo Manh của YHCT.

- Thường gặp nơi người trên 40 tuổi (1,4 – 2%) và tỉ lệ mù 2 mắt do Glôcôm gây ra chiếm khoảng 21% (Bài Giảng Tai Mắt Mũi Họng).

Triệu Chứng

+ Chứng báo hiệu trước: Nhức đầu về đêm, nhìn vào đèn thấy quần xanh, đỏ, thỉnh thoảng mắt mờ như nhìn qua gương.

+ Chứng cơn cấp tính: Thường xẩy ra sau 1 xúc động mạnh về tinh thần hoặc vật chất, mệt nhọc, bị cảm lạnh đột ngột…

. Hỏi người bệnh cho biết: tự nhiên thấy đau nhức trong mắt dữ dội, rồi lan lên nửa đầu, xuyên ra sau gáy, nhức từng cơn như búa bổ, cơ thể mỏi mệt, muốn nôn, có khi choáng váng muốn ngất, thị lực giảm sút nhanh chóng, đột ngột, chỉ còn thấy bóng bàn tay hoặc chỉ thấy sáng tối.

. Khám mắt thấy: mi mắt sưng và nhắm chặt vì sợ ánh sáng, mắt đỏ vì máu cương tụ quanh rìa giác mạc, giác mạc hơi mờ đục, đặc biệt là đồng tử giãn to và phản xạ đồng tử mất hoặc kém hẳn đi, qua lỗ đồng tử thấy ánh sáng xanh đục như hồ nước, sờ nắn ngoài mi thấy nhãn cầu cứng như hòn bi.

Nguyên nhân

+ Theo YHHĐ: Do trạng thái tiết dịch vào các phòng trong mắt và sự lưu thông thoát dịch ra ngoài không được điều hòa, dịch ứ lại làm áp lực trong mắt tăng cao gây tổn hại các bộ phận trong mắt. cũng có thể do cảm xúc quá mạnh, nhất là ưu phiền, mất ngủ, mỏi mệt, tình dục qúa độ, một số bệnh toàn thân (sốt, mạch máu, thần kinh…) tác động gây cương tụ máu, kích thích vỏ não và các trung tâm thần kinh ở giữa não.

+ Theo YHCT: Do phong nhiệt ở Can và Phế bốc lên gây nên bệnh.

Điều trị

Chọn dùng các bài sau: Bình Can Kiện Tỳ Lợi Thấp Thang, Dục Âm Tiềm Dương Thông Mạch Thang, Tả Can Giải Uất Thang, Thông Lạc Thang, Thông Mạch Minh Mục Thang, Thư Can Phá Ứ Thông Mạch Thang, Tiêu Dao Tán Gia Vị, Trư Linh Tán.

CHÂM CỨU

Theo sách ‘Trung Y Cương Mục’:

+ Do khí huyết ngưng trở: Hành khí, hoạt huyết, sơ thông mục lạc. Châm Tinh minh, Cầu hậu, Phong trì, Thiên trụ, Thiên song, Nội quan.

(Tinh minh, Cầu hậu để hành khí, hoạt huyết, thông lạc, khai khiếu; Thiên trụ, Thiên song là hai huyệt chủ yếu trị bệnh về mắt, hợp với huyệt Tinh minh để làm cho kinh lạc, khí huyết ở cục bộ được lưu thông; Phong trì lợi Đởm, làm sáng mắt, làm cho lạc mạch được thư sướng, huyết được vận hành, sơ Can, khai khiếu. Sách Nội Kinh ghi: “Các mạch đều thuộc về Tâm”, Tâm chủ huyết mạch, vì vậy dùng huyệt Nội quan để thông tâm mạch, hành khí huyết, hỗ trợ cho các huyệt làm cho sáng mắt).

+ Đờm Nhiệt Ủng Tắc Ở Bên Trên: Địch đờm, khai khiếu, hoạt huyết, thông lạc. Châm huyệt Tinh minh, Cầu hậu, Phong trì, Thiên trụ, Phong long, Nội đình.

(Tinh minh, Cầu hậu để hành khí, hoạt huyết, thông lạc, khai khiếu; Thiên trụ là huyệt chủ yếu trị bệnh về mắt, hợp với huyệt Tinh minh để làm cho kinh lạc, khí huyết ở cục bộ được lưu thông; Phong trì lợi Đởm, làm sáng mắt, làm cho lạc mạch được thư sướng, huyết được vận hành, sơ Can, khai khiếu; Phong long là lạc huyệt của kinh Vị, có tác dụng hóa đờm; Nội đình là huyệt Vinh của kinh Vị, ‘Vinh huyệt chủ trị thân nhiệt’, dùng huyệt này để thanh tả viêm nhiệt).

+ Âm Hư Dương Kháng: Bình Can, tiềm dương, tư âm, tức phong. Châm huyệt Tinh minh, Cầu hậu, Phong trì, Thiên trụ, Thái khê, Phục lưu, Thái xung.

(Tinh minh, Cầu hậu để hành khí, hoạt huyết, thông, khai khiếu; Thiên trụ là huyệt chủ yếu trị bệnh về mắt, hợp với huyệt Tinh minh để làm cho kinh lạc, khí huyết ở cục bộ được lưu thông; Phong trì lợi Đởm, làm sáng mắt, làm cho lạc mạch được thư sướng, huyết được vận hành, sơ Can, khai khiếu; Thái khê là Nguyên huyệt của kinh Thận, trị theo gốc; Phục lưu là huyệt Kinh của kinh Thận để bổ ích cho Thận thủy. Hai huyệt phối hợp có tác dụng tư Thận, chấn tinh; Thái xung là huyệt Nguyên của kinh Can để bình Can, tiềm dương).

ĐỀ PHÒNG GLÔCÔM

+ Tránh các lo lắng, giận dữ, thức khuya, cần làm việc điều độ,

+ Kiêng ăn các thức ăn cay, chua, tránh táo bón.

Tra Cứu Bài Thuốc

BÌNH CAN KIỆN TỲ LỢI THẤP THANG (Trung Quốc Trung Y Bí Phương Đại Toàn): Thạch quyết minh (sắc trước) 15g, Cúc hoa, Trạch tả, Chử thực tử đều 9g, Phục linh 12g, Thương truật, Bạch truật, Trư linh, Trần bì đều 6g, Quế chi 3g. Sắc uống.

TD: Bình Can, kiện Tỳ, lợi thủy. Trị thanh quang nhãn.

(Trị 15 ca, khỏi như ý 10, đỡ 2, không kết quả 3).

DỤC ÂM TIỀM DƯƠNG THÔNG MẠCH THANG (Trung Quốc Nhãn Khoa Lâm Sàng Thực Nghiệm): Sinh địa, Trân châu mẫu (sắc trước) đều 15g, Sơn dược, Mạch môn, Tri mẫu (tẩm muối), Hoàng bá (tẩm muối), Long cốt (sống – sắc trước), Ngưu tất, Đan sâm, Xích thược, Thuyền thoái, Mộc tặc đều 9g, Câu kỷ tử, Bạch thược, Sa sâm đều 12g. Sắc uống.

TD: Tư âm, ích Thận, bình Can, tiềm dương, phá ứ, hành huyết. Trị bạo manh, võng mạc viêm tắc.

TẢ CAN GIẢI UẤT THANG (Trung Y Nhãn Khoa Lâm Sàng Thực Nghiệm): Cát cánh, Sung úy tử, Xa tiền tử, Đình lịch tử, Phòng phong, Hoàng cầm, Hương phụ đều 9g, Hạ khô thảo, Lô căn đều 30g, Cam thảo 3g. Sắc uống.

TD: Tả Can, giải uất, lợi thủy, thông lạc. Trị thanh quang nhã (do Can kinh có uất nhiệt).

THÔNG LẠC THANG (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Hạ): Tân vân bì 3 – 6g, Cam cúc hoa, Mao đông thanh, Tử đan sâm, Hoàng cầm (sao rượu) đều 15 – 30g, Cát căn (phấn), Sinh bồ hoàng (bào) đều 9 – 15g, Đại hoàng (chưng rượu) 3 – 6g. Sắc uống.
TD: Bình Can, khứ phong, hoạt huyết, thông lạc. Trị tĩnh mạch mắt bị tắc, bạo manh

THÔNG MẠCH MINH MỤC THANG (Trung Quốc Đương Đại Trung Y Danh Nhân Chí): Đương quy vĩ, Hồng hoa, Xuyên sơn giáp, Mộc thông, Lưu ký nô đều 10g, Xích thược, Đào nhân, Lộ lộ thông đều 12g, Thủy điệt 4g, Thổ nguyên 6g, Địa long 15g. Sắc uống.

TD: Thông mạch, hoạt lạc, trục ứ, làm sáng mắt. Trị bạo manh.

THƯ CAN PHÁ Ứ THÔNG MẠCH THANG (Trung Y Nhãn Khoa Lâm Sàng Thực Nghiệm): Đương quy, Ngân sài hồ, Bạch thược, Phục linh, bạch truật, Khương hoạt, Phòng phong, Thuyền thoái, Mộc tặc đều 9g, Đan sâm, Xích thược đều 12g, Cam thảo 3g. Sắc uống.

TD: Thư Can, giải uất, phá ứ, hành huyết, kiện Tỳ, thông lạc. Trị bạo manh.

TIÊU DAO TÁN GIA VỊ (Hòa Tễ Cục Phương): Sài hồ, Đương quy, Bạch thược, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Bạc hà, Sinh khương. Sắc uống.

TD: Trị nhãn áp cao, cườm mắt.

TRƯ LINH TÁN (Ngân Hải Tinh Vi): Biển súc, Cẩu tích, Chi tử, Đại hoàng, Hoạt thạch, Mộc thông, Thương truật đều 40g, Thổ phục linh, Xa tiền tử đều 20g. Tán bột. Mỗi lần dùng 12g với muối nhạt.

TD: Trị mắt có màng mây đen (Hắc phong nội chướng).

Các phương pháp khám và chẩn đoán glôcôm hiện đại

- Đo nhãn áp: Tùy từng phương pháp đo nhãn áp mà có chỉ số bình thường khác nhau. Các phương pháp đo nhãn áp tiên tiến hiện nay như phương pháp Goldmann, phương pháp đo nhãn áp không tiếp xúc cho kết quả chính xác cao. Phương pháp không tiếp xúc còn có ưu điểm hạn chế nguy cơ lây nhiễm bệnh.

o_nhn_p Đo nhãn áp không tiếp xúc ( phụt hơi)                                                              

- Soi góc tiền phòng: bằng kính soi góc, sử dụng sinh hiển vi khám bệnh cho phép phân loại thể glôcôm góc đóng hay góc mở. Hiện nay với các thiết bị chẩn đoán hiện đại như chụp OCT góc tiền phòng cho phép chẩn đoán chính xác tình trạng góc và độ đóng mở của góc, giúp ích rất nhiều cho chẩn đoán và điều trị

OCT_goc_tien_phong

Hình ảnh cắt lớp góc tiền phòng

- Soi đáy mắt: đánh giá mức độ lõm teo gai thị

- Đo thị trường tự động: Đây là phương pháp đo thị trường tiên tiến cho phép đánh giá các tổn thương của tế bào hạch thần kinh của võng mạc từ giai đoạn sớm, đồng thời cho phép đánh giá các giai đoạn của bệnh cũng như theo dõi tiến triển của bệnh.

ket_qua_thi_truongKết quả đo thị trường tự động

- Chụp OCT: các thế hệ máy chụp OCT tiên tiến ngày nay cho phép đánh giá được rất nhiều yếu tố giúp chẩn đoán bệnh glôcôm từ giai đoạn rất sớm. OCT cho phép đánh giá tổn thương của lớp tế bào hạch, chiều dày của lớp sợi thần kinh quanh gai thị, diện tích và thể tích lõm gai, diện tích lớp viền thần kinh quanh gia còn lại… Sử dụng OCT để theo dõi quá trình điều trị bệnh cho phép phát hiện ra những biến đổi rất nhỏ, giúp bác sỹ có những phương pháp điều trị kịp thời thích hợp

Triệu chứng bệnh glôcôm

Bệnh glôcôm do có nhiều thể bệnh và nhiều nguyên nhân khác nhau do vậy triệu chứng biểu hiện cũng rất khác nhau tùy thể loại bệnh. Các thể bệnh góc đóng biểu hiện thường cấp tính với các triệu chứng rất điển hình, các thể góc mở thường khó nhận biết nên thường bị bỏ qua đến giai đoạn rất muộn

acute_glocom

 Mắt bị glôcôm góc đóng

Glôcôm góc đóng: là thể bệnh hay gặp ở Việt Nam và châu Á. Triệu chứng thường điển hình như mắt đau nhức dữ dội, nhìn đèn thấy quầng xanh quầng đỏ, nhìn mờ nhiều đôi khi chỉ còn thấy sáng tối. Mắt co quắp khó mở mắt, chảy nước mắt nhiều và sưng đỏ. Đôi khi có những trường hợp glôcôm góc đóng bán cấp hoặc mãn tính với các triệu chứng nhẹ hơn, tái phát nhiều lần. Nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến tổn thương thần kinh thị giác trầm trọng không hồi phục.  

Nguyên tắc điều trị glôcôm

Mục đích của điều trị bệnh glôcôm là làm hạ nhãn áp đến mức không còn gây tổn thương đến thị thần kinh thị giác, mặc dụ bệnh nhân vẫn cảm thấy thị lực bình thường, bởi đa số trường hợp thị lực mất đi một cách từ từ mà bệnh nhân không cảm nhận rõ ràng được.

Tùy thể bệnh glôcôm mà có phương pháp điều trị thích hợp. Các thể bệnh glôcôm góc mở được điều trị bằng các loại thuốc tra làm hạ nhãn áp, chỉ khi không điều chỉnh được nhãn áp bằng thuốc mới phải phẫu thuật. Các thể bệnh glôcôm góc đóng được điều trị bằng laser hoặc phẫu thuật. Ngày nay xuất hiện một số quan điểm mới về điều trị glôcôm như phẫu thuật phaco thay thể thủy tinh đục để phối hợp điều trị một số thể glôcôm góc đóng…

Các thể glôcôm góc đóng thường được chỉ định điều trị bằng laser hoặc phẫu thuật. Phẫu thuật glôcôm phổ biến là phẫu thuật cắt bè củng giác mạc. Một số trường hợp nếu có thể thủy tinh đục, bác sỹ có thể chỉ định mổ lấy thể thủy tinh bằng phaco đơn thuần để điều trị cùng một lúc hai bệnh glôcôm và đục thể thủy tinh. Mắt còn lại (cho dù chưa lên cơn glôcôm), cũng cần được điều trị dự phòng bằng cắt mống mắt chu biên để tránh bệnh xuất hiện. Cắt mống mắt chu biên dự phòng glôcôm bằng laser, tạo một lỗ thủng ở sát chân mống mắt để thủy dịch lưu thông dễ dàng từ hậu phòng ra tiền phòng tránh hiện tượng nghẽn đồng tử.

Các thể glôcôm góc mở được điều trị chủ yếu bằng các loại thuốc tra hoặc bằng laser. Các thuốc tra này được dùng thường xuyên liên tục theo chỉ định của bác sỹ và cần được theo dõi định kỳ. Bác sỹ có thể chỉ định một hoặc nhiều loại thuốc tra tùy thuộc vào sự đáp ứng của bệnh nhân. Mục tiêu là đạt được một chỉ số nhãn áp bình thường ổn định. Ngoài ra còn có thể dùng laser tạo hình lại vùng bè để làm hạ nhãn áp (laser trabeculoplasty), dùng laser chiếu vào vùng bè làm mở  rộng đường thoát lưu thủy dịch. Khi các thuốc và laser không còn đủ tác dụng để làm hà nhãn áp, cần phải thực hiện phẫu thuật. Bệnh nhân có thể được chỉ định phẫu thuật cắt bè củng giác mạc, cắt củng mạc sâu.

Ngoài ra trong một số hình thái glôcôm đặc biệt bác sỹ có những chỉ định điều trị khác biệt. Một số trường hợp glôcôm tái phát nặng, có thể phải mổ đặt ống dẫn lưu hoặc quang đông thể mi.

Bệnh glôcôm là một bệnh phức tạp và điều trị cũng vô cùng khó khăn. Bệnh nhân phải được thấu hiểu một điều là glôcôm là một bệnh không thể chữa khỏi hoàn toàn. Kết quả điều trị hiện tại chỉ là kết quả nhất thời, bệnh có thể tái phát, hoặc thậm chí nhãn áp đã được điều chỉnh nhưng chức năng thị giác vẫn tiếp tục xấu đi, tức là bệnh vẫn tiến triển. Do vậy bệnh nhân cần được theo dõi định kỳ lâu dài để điều trị kịp thời những diễn biến không tốt của bệnh.

HỎI ĐÁP:

1. Bệnh glôcôm luôn có triệu chứng đau nhức mắt. Do vậy không đau nhức mắt thì không lo ngại gi?

Trả lời: Đau nhức mắt chỉ gặp trong một số thể bệnh glôcôm cấp tính. Các thể bệnh mãn tính, do áp lực trong mắt tăng lên từ từ nên mắt thích nghi với sức căng bất thường đó mà không có cảm giác đau nhức hoặc chỉ thỉnh thoảng căng tức trong mắt.

2. Bệnh glôcôm chỉ gặp ở người già?

Không phải vậy. Bệnh có thể gặp ở bất cứ lứa tuổi nào, và do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Bệnh glôcôm thứ phát hay gặp nhất trong cộng đồng hiện nay là glôcôm do tra thuốc corticoid kéo dài. Những bệnh nhân tự mua các loại thuốc này ( Ticoldex, Dexacol, Decordex…) tra kéo dài để chữa các chứng ngứa mắt sẽ có nguy cơ rất cao bị glôcôm.

3. Nếu thấy thị lực giảm thì phải khám sớm để phát hiện sớm bệnh glôcôm?

Thị lực giảm thì nên đi khám bệnh ngay. Tuy nhiên, bệnh glôcôm khi đã có giảm thị lực thường đã ở giai đoạn muộn rồi. Các thể glôcôm mãn tính gây chết các tế bào thần kinh làm tổn thương thị trường chu biên, bệnh nhân vẫn nhìn bằng thị trường trung tâm rõ nét. Khi tổn thương đến thị trường trung tâm thì đã ở giai đoạn muộn.

4. Tra thuốc điều trị glôcôm trong bao lâu?

Thuốc tra điều trị glôcôm phải được sử dụng thường xuyên liên tục theo chỉ định của bác sỹ chuyên khoa mắt. Nếu tự ý ngừng thuốc sẽ ảnh hưởng đến kết quả điều trị, nhãn áp sẽ cao trở lại gây tổn thương thần kinh. Nếu một thuốc không đạt kết quả thì bác sỹ có thể điều trị bằng 2 hay nhiều thuốc tra, hoặc bằng laser. Khi thuốc tra không còn tác dụng, bệnh nhân sẽ được chỉ định phẫu thuật.

5. Sau khi phẫu thuật xong, bệnh khỏi hoàn toàn?

Bệnh glôcôm không khỏi được hoàn toàn. Sau khi phẫu thuật xong, bệnh nhân vẫn phải được theo dõi định kỳ, vì glôcôm có thể tái phát bất cứ lúc nào.

6. Làm thế nào để phòng bệnh glôcôm?

Nếu bạn có nguy cơ bị bệnh glôcôm ( xem phần nguy cơ), bạn nên đến khám bác sỹ chuyên khoa mắt định kỳ để phát hiện sớm bệnh. Ngoài ra, khi ở độ tuổi từ 40 trở lên cũng nên đi khám mắt định kỳ để phát hiện sớm bệnh. Hãy cảm nhận bất cứ một dấu hiệu bất thường nào ở mắt, thì hãy đi khám bệnh ngay, không nên tự ý mua thuốc tra mắt, có thể gây hậu quả nghiêm trọng hơn là bạn tưởng.

Ths.Bs Đặng Xuân Nguyên -BV Mắt Hitec

Theo benhvienmat.vn