Bỏng mắt – cách phòng tránh và điều trị

Bỏng mắt là một cấp cứu đặc biệt trong nhãn khoa, nhất là bỏng do hoá chất, vì trong nhiều trường hợp dù có điều trị tích cực, kịp thời vẫn không ngăn được mù loà. Điều trị bỏng mắt phải xử trí khẩn trương, đúng đắn thì mới có thể bảo tồn được chức năng sinh lý của mắt. Tiên lượng mắt bị bỏng phụ thuộc rất nhiều vào cách xử trí cấp cứu ban đầu

Trong những trường hợp bỏng nặng do nồng độ hoá chất cao, đậm đặc, do đặc tính hoá lý của chất gây bỏng có thể dẫn đến những tổn thương và những biến chứng nguy hiểm không những đe doạ chức năng của mắt mà còn có nguy cơ phải bỏ nhãn cầu.

Tuỳ theo tác nhân gây bỏng, có thể phân chia ra bỏng hoá chất, bỏng nóng, bỏng do tia sáng (tia hồng ngoại, tia tử ngoại).

Hiện nay, số lượng bỏng mắt do hoá chất có xu hướng ngày càng tăng.

Trên thế giới người ta phân bỏng ra làm hai loại: theo chiều sâu và theo chiều rộng + chiều sâu

Độ rộng Độ sâu Mi Kết mạc và củng mạc Giác mạc và vùng rìa
Nhẹ I Cương tụ da Cương tụ kết mạc Bỏng biểu mô (nông)
Vừa II Nốt phồng Màng giả kết mạc Đục lờ mờ
Nặng III, IV Hoại tử da, hoại tử, cháy đen da mi, cơ và sụn mi < 1/2 diện tích Hoại tử kết mạc, củng mạc dưới 1/2 diện tích Đục nông (như kính mờ), đục sâu (trắng như men sứ) dưới 1/2 diện tích
Nặng đặc biệt V Hoại tử, cháy đen da mi, cơ và sụn mi > 1/2 diện tích Hoại tử kết mạc, củng mạc dưới 1/2 diện tích Đục nông (như kính mờ), đục sâu (trắng như men sứ) trên 1/2 diện tích

Ngày nay, quan niệm bỏng mắt không phải chỉ là hiện tượng tại chỗ ở mắt, mà còn một “bệnh bỏng”, một trạng thái bỏng toàn thân, trong đó sự biến đổi về sinh hoá ở các tổ chức và nội tạng như rối loạn cơ cấu chất albumin trong máu, rối loạn lượng glycogen, rói loạn lượng azot dự trữ và các chỉ số khác như prothrombin, một số men chuyển hoá, rối loạn tăng băng axit – ba zơ, rối loạn các men chuyển hoá ở trong các cơ, trong gan, trong tế bào não và tim. Sau khi mắt bị bỏng, trong cơ thể xuất hiện tình trạng nhạy cảm của cơ thể và khả năng phản ứng toàn thân và tại chỗ cũng thay đổi theo.

Những biến đổi ở mắt như: Giảm lượng glycogene, mucôplysacarit, sunfidril, thay đổi tỷ xuất albumin globumin, viatmin, đặc biệt là vitamin B2 và vitamin C ở giác mạc và các màng bọc của nhãn cầu.

Những sự thay đổi sinh hoá toàn thân và tại chỗ là phương hướng giúp cho việc điều trị bỏng mắt cụ thể sau này.

LÂM SÀNG

Trong các loại bỏng, thì bỏng hoá chất thuộc loại nặng nhất do tính chất tiêu tổ chức và thấm sâu vào tổ chức. Tác nhân hay gặp là chất axit và chất bazơ (sút, vôi, amoniac).

Tổn thương mắt nặng hay nhẹ phụ thuộc vào thời gian hoá chất ở trong mắt, nồng độ hoá chất, tính chất lý hoá học của hoá chất làm thay đổi độ pH của mắt, phá huỷ các chất protein.

Bỏng nhẹ: Mắt bị kích thích, kết mạc cương tụ, giác mạc phù biểu mô, thị lực giảm ít.

Bỏng nặng: Mắt đau nhức nhiều, kết mạc bị phù, tắc mạch, có chỗ hoại tử trắng không còn mạch máu. Giác mạc đục trắng, phần sau không trông thấy. Biểu mô bong ra, mô nhục bị đục và phù, loét giác mạc dai dẳng dẫn đến thủng mắt, thị lực giảm mạnh, có thể chỉ còn phân biệt được ánh sáng.

Xử trí ban đầu:


Tiên lượng của mắt bị bỏng phụ thuộc vào việc cấp cứu ở những giây phút ban đầu sau bị bỏng, do đó việc xử trí cấp cứu ở nơi xảy ra tai nạn là điều cần được phổ biến và hướng dẫn cho mọi người. Việc cần khẩn cấp tiến hành đầu tiên là loại trừ tác nhân gây bỏng ra khỏi mắt bằng cách rửa mắt với nhiều nước và kéo dài bằng huyết thanh sinh lý, nước sạch. Trong điều kiện không có nước sạch thì phải chấp nhận cả nước không sạch (nước ao, hồ, ruộng…) để rửa mặt.

Tác dụng của việc rửa mắt:

- Loại trừ tác nhân gây bỏng ra khỏi mắt.

- Giảm nồng độ của hóa chất gây bỏng.

- Kiểm kê được tổn thương.

- Hạn chế các di chứng về sau.

Cách rửa:

- Có thể tự bệnh nhân rửa bằng cách ngâm mặt – mắt xuống nước và cố gắng chớp mắt thật nhiều lần trong nước để nước lưu thông toàn bộ bề mặt mắt.

- Những người khác có thể giúp bệnh nhân rửa mắt bằng cách dùng vòi nước, gáo, xô, chậu… để xối nước vào trong mắt bệnh nhân trong tư thế bệnh nhân nằm ngửa, mắt mở chủ động hoặc người khác phải vành mi giúp.

- Lượng nước rửa ít nhất phải vài lít.

- Thời gian rửa ít nhất 10 – 15 phút.

Lưu ý: Tuyệt đối không được rửa mắt bằng các dung dịch trung hòa axit bằng bazơ và ngược lại vì sẽ làm cho tình trạng bỏng ở mắt nặng thêm.

Như vậy rửa mắt tại nơi xảy ra tai nạn là một biện pháp đơn giản nhưng lại rất có giá trị làm cho tác nhân gây bỏng không còn lại ở bề mặt nhãn cầu và các túi cùng kết mạc để xâm nhập vào các tổ chức bên trong mắt, bảo tồn chức năng sinh lý của mắt. Kết quả điều trị tốt hay xấu là do cách xử trí cấp cứu ban đầu quyết định. Sau khi đã xử trí sơ cứu kịp thời, tra mỡ kháng sinh cần chuyển bệnh nhân tới chuyên khoa mắt để được điều trị. Khi chuyển bệnh nhân, chống chỉ định băng mắt mà chỉ che mắt.

Chú ý: Đối với những trường hợp bỏng mắt do vôi phải gắp vôi cục ra hết sau đó mới rửa mắt.

ĐIỀU TRỊ

Điều trị bỏng mắt phải xử trí thật khẩn trương, đúng đắn thì mới có thể bảo tồn được chức năng sinh lý của mắt. Tiên lượng mắt bị bỏng phụ thuộc rất nhiều vào cách xử trí cấp cứu ban đầu.

Điều trị bỏng mắt phải tuân theo nguyên tắc sau đây:
- Loại bỏ chất gây bỏng ra khỏi mắt bằng cách rửa ngay bằng nước sạch.
- Chống đau.
- Chống nhiễm khuẩn (dùng kháng sinh tại chỗ và toàn thân).
- Chống dính (tra thuốc mỡ, không băng).
- Dinh dưỡng ở kết giác mạc.

1. Loại bỏ chất gây bỏng:

- Tra Dicain 1% gây tê tại chỗ.

- Lấy hết dị vật còn trong mắt. Nếu bỏng do vôi cục chưa tôi phải dùng panh gắp hết vôi cục ra (không nên rửa mắt ngay từ đầu). Rửa mắt bằng nước muối 9‰ hoặc nước đường nếu bỏng do vôi. Trước khi rửa mắt cần phải kiểm tra độ pH trong mắt, rửa xong phải kiểm tra đo lại độ pH. Nếu bỏng do bazơ cần phải rửa lâu hơn 30 phút cho tới khi pH trở về cân bằng (pH = 7). Theo các chuyên gia nhãn khoa không nên rửa mắt bằng dung dịch đối kháng.

2. Điều trị nội khoa:

Tra thuốc: Cloroxit+ dầu A, dung dịch CB2, mỡ kháng sinh, tra Atropin 1% chống viêm mống mắt thể mi.

Tiêm dưới kết mạc: máu tự thân hoặc huyết thanh tự thân 0,5 – 1 ml.

Phòng chống dính : day cùng đồ với mỡ kháng sinh bằng que thuỷ tinh đầu tròn ngày 1 – 2 lần. Có thể đặt khuôn bằng nhựa hoặc chất dẻo để chống dính có lỗ ở giữa ( bỏng sau 2 – 3 ngày) nhưng phải thận trọng do khuôn có thể cọ sát vào giác mạc gây loét.

- Uống thuốc giảm đau, an thần, vitamin tăng cường sức đề kháng của cơ thể.

3. Điều trị ngoại khoa:

Có một số phẫu thuật được làm trong giai đoạn đầu của bỏng mắt nhưng chỉ định phải hết sức thận trọng, đó là:

- Chọc tiền phòng: hay được chỉ định trong bỏng bazơ nhằm thay thế thuỷ dịch có hoá chất bằng thuỷ dịch thứ sinh có nhiều kháng thể hơn.

- Phẫu thuật Doenig : Khi kết mạc bị hoại tử nặng: cắt bỏ kết mạc hoại tử sát rìa giác mạc, vá niêm mạc môi ủng hoặc màng rau thai.

- Phẫu thuật Passow Poliak: có thể áp dụng rộng rãi hơn nhằm loại trừ các chất độc và độc tố do tổ chức hoại tử tiết ra còn đọng dưới kết mạc: rạch 4 đường trên kết mạc dài 4 – 5 mm hình nan hoa giữa 4 cơ thẳng, tách giữa kết mạc và củng mạc, không khâu kết mạc.

- Ghép giác mạc: là biện pháp ngày càng đựơc chỉ định rộng rãi trong điều trị bỏng như ghép giác mạc xuyên, ghép giác mạc nông.

- Phẫu thuật tách dính mi cầu, phẫu thuật da tạo hình mi, phẫu thuật phủ Tenon, hạ nhãn áp, phẫu thuật Sapejko, phẫu thuật khâu cò mi.

ĐỀ PHÒNG BỎNG MẮT

- Giáo dục ý thức đề phòng tai nạn chấn thương mắt cho tất cả mọi người đặc biệt ở lứa tuổi học sinh, người lao động.

- Cải thiện điều kiện lao động và tăng cường bảo hộ lao động cho công nhân: Trong các nhà máy, xí nghiệp, phòng thí nghiệm sử dụng các hóa chất cần phải đeo kính bảo vệ mắt. Cần tổ chức cấp cứu đầy đủ, có vòi nước, thùng nước và nước sạch để rửa mắt.

- Cần nghiêm trị những kẻ dùng hóa chất làm hại người khác vì bất kỳ lý do nào.

- Ngăn cấm trẻ em đứng cạnh hố vôi đang tôi hoặc nghịch ngợm ném vôi vào mắt nhau.

- Tại những nơi tôi vôi phải được rào cọc xung quanh và phải có biển báo nguy hiểm.

- Cách ly trẻ khỏi những nguồn gây bỏng nguy hiểm như khi rán mỡ , nấu ăn…

Suckhoe365.net