Viêm tụy là gì?

Viêm tụy là một bệnh hiếm gặp trong đó tụy xảy ra tình trạng viêm. Khi các men tiêu hoá được hoạt hoá và bắt đầu tấn công vào tụy thì xảy ra hiện tượng phá hủy tuyến tụy, trong một số trường hợp nặng có thể dẫn đến xuất huyết tụy, tổn thương mô nghiêm trọng, nhiễm trùng và tạo nang. Các men và độc tố có thể đi vào máu và làm tổn thương nặng nề các cơ quan như tim, phổi và thận.

Có hai dạng viêm tuỵ. Dạng cấp tính xảy ra một cách đột ngột và có thể là một bệnh nặng, đe dọa tính mạng với rất nhiều biến chứng. Thông thường, bệnh nhân được hồi phục hoàn toàn. Nếu tình trạng tổn thương tụy tiếp tục tiếp diễn như khi bệnh nhân không bỏ rượu thì bệnh trở thành mạn tính, dẫn đến đau dữ dội và giảm chức năng tụy, ảnh hưởng đến khả năng tiêu hoá cũng như làm sụt cân.

Nguyên nhân viêm tụy ?

Ở Hoa Kỳ, mỗi năm có khoảng từ 50000 đến 80000 trường hợp viêm tụy cấp. Bệnh xảy ra khi tuyến tụy bị viêm đột ngột và sau đó thuyên giảm. Một số bệnh nhân trãi qua nhiều đợt bùng phát nhưng sau mỗi đợt thì phục hồi hoàn toàn. Hầu hết các trường hợp viêm tụy là do nghiện rượu hay sỏi mật. Một số nguyên nhân khác có thể gặp bao gồm thuốc, chấn thương hay phẫu thuật bụng, bất thường tuyến tụy hoặc ruột. Bệnh cũng có thể do nhiễm trùng như quai bị nhưng hiếm và còn lại khoảng 15% trường hợp nguyên nhân không rõ.

Triệu chứng viêm tụy cấp

Viêm tụy cấp thường bắt đầu bằng đau vùng bụng trên, có thể kéo dài vài ngày. Cơn đau thường nặng, có thể liên tục ở bụng hoặc lan sang lưng và các vùng khác. Đau có thể khởi phát đột ngôt, dữ dội hay khởi đầu một cách nhẹ nhàng, tăng lên khi ăn và tiến triển nặng một cách chậm chạp. Bụng có thể phù nề và nhạy đau. Một số triệu chứng khác bao gồm buồn nôn, nôn, sốt và tăng nhịp tim. Bệnh nhân thường cảm thấy cũng như biểu hiện rất mệt mỏi.

Có khoảng 20% các trường hợp là nặng. Bệnh nhân có thể bị mất nước và tụt huyết áp, đôi khi suy giảm chức năng tim, phổi, thận. Ở hầu hết các trường hợp nặng, xuất huyết tụy có thể xảy ra đưa đến shock và có thể tử vong.

Cách chẩn đoán viêm tụy cấp

Trong suốt những đợt viêm cấp, nồng độ amylase (một loại men tiêu hoá của tụy) tăng cao trong máu. Những thay đổi về nồng độ canxi, magne, natri, kali và bicarbonat (HCO3-) trong máu cũng có thể xảy ra. Bệnh nhân cũng có nồng độ đường huyết và lipid máu cao. Những thay đổi giúp cho bác sĩ chẩn đoán viêm tụy. Sau khi bệnh phục hồi, nồng độ của các chất trên trong máu thường trở về bình thường.

Cách điều trị

Điều trị bệnh phục thuộc vào độ năng của cơn cấp. Nếu không có biến chứng thì viêm tụy cấp thường tự giới hạn do đó trong đa số trường hợp chỉ cần điều trị nâng đỡ. Thông thường bệnh nhân sẽ nhập viện và được bác sĩ chỉ định truyền dịch nhằm duy trì thể tích tuần hoàn. Nhằm ngăn ngừa suy đa cơ quan thì chức năng thận và phổi có thể được điều trị. Các vấn đề khác như tạo nang trong tụy cũng có thể cần được điều trị.

Đôi khi, một bệnh nhân không thể kiểm soát được tình trạng nôn ói và cần phải được đặt ống thông mũi-dạ dày để dẫn lưu dịch và khí. Trong những trường hợp nhẹ, bệnh nhân có thể không ăn trong 3 hoặc 4 ngày nhưng được nuôi ăn và giảm đau qua đường tĩnh mạch. Một đợt cấp thường chỉ kéo dài trong vài ngày trừ khi các ống dẫn bị tắc bởi sỏi mật. Trong những trường hợp nặng, bệnh nhân có thể được nuôi ăn bằng tĩnh mạch trong vòng 3 đến 6 tuần trong khi tuyến tụy phục hồi chậm.

Có thể dùng kháng sinh khi các dấu hiệu nhiễm trùng xuất hiện. Nếu xảy ra các biến chứng như nhiễm trùng, tạo nang hoặc xuất huyết thì phẫu thuật có thể phải cần đến. Những đợt cấp do sỏi mật có thể cần phải cắt bỏ túi mật hay phẫu thuật ống dẫn mật. Đôi khi người bác sĩ cần phải phẫu thuật để loại bỏ các vấn đề khác của ổ bụng có thể kích thích viêm tụy hay nhằm điều trị viêm tụy cấp. Khi xảy ra tổn thương nghiêm trọng với mô bị hoại tử thì phẫu thuật được dùng để cắt bỏ vùng hoại tử đó.

Sau khi các triệu chứng của viêm tụy cấp biến mất, bác sĩ sẽ xác định nguyên nhân và cố gắng phòng ngừa các đợt tái phát về sau. Ở một số bệnh nhân, nguyên nhân gây bệnh thì rõ ràng nhưng ở một số khác thì cần phải làm thêm một số xét nghiệm

Chuyện gì sẽ xảy ra khi bệnh nhân có sỏi mật?

Siêu âm được dùng để phát hiện sỏi và đôi khi cung cấp cho bác sĩ những thông tin về mức độ nặng của viêm tụy. Khi phát hiện có sỏi mật, thường cần phải phẫu thuật để lấy chúng. Thời điểm lấy sỏi tùy thuộc vào độ nặng của viêm tụy. Nếu bệnh nhẹ, sỏi có thể lấy trong vòng khoảng một tuần. Trong những trường hợp nặng hơn, trước khi lấy sỏi thì bệnh nhân có thể phải đợi một tháng hoặc lâu hơn cho đến khi họ được cải thiện bệnh. Đôi khi cũng có thể dùng phương pháp chụp CT để tìm kiếm những biến đổi trong và xung quanh tụy cũng như xác định mức độ nặng. Đây là những dữ liệu quan trọng giúp người bác sĩ quyết định thời điểm lấy sỏi.

Tuyến tụy thường phục hồi hoàn toàn sau khi đã lấy đi sỏi mật và hiện tượng viêm thoái lui. Trước khi được xuất viện, người bệnh được dặn dò tránh uống rượu và ăn quá nhiều.

Viêm tụy mạn là gì?

Viêm tụy mạn thường là hậu quả của nghiện rượu nhiều năm. Bệnh có thể diễn tiến chỉ sau một đợt viêm cấp đặc biệt là nếu có tổn thương ống dẫn của tụy. Trong những giai đoạn sớm, bác sĩ không thể luôn luôn xác định bệnh nhân bị bệnh cấp hay mạn tính. Các triệu chứng có thể tương tự nhau. Tổn thương tụy do uống rượu có thể không gây triệu chứng trong nhiều năm và sau đó bệnh nhân đột ngột khởi phát một đợt viêm tụy. Nghiện rượu dường như là nguyên nhân gây viêm tụy mạn trong hơn 90% các trường hợp. Bệnh thường gặp ở nam hơn là nữ và thường khởi phát giữa 30 đến 40 tuổi. Trong những trường hợp khác thì viêm tụy có thể là do di truyền. Các nhà nghiên cứu vẫn chưa biết được hiện tượng này di truyền như thế nào. Các bệnh nhân viêm tụy mạn thường đối mặt với ba vấn đề: đau, kém hấp thu dẫn tới sụt cân hoặc tiểu đường.

Hầu hết bệnh nhân đều có đau trong khi một số khác thì không có. Đau có thể là liên tục ở lưng và bụng và đối với một số bệnh nhân thì những cơn đau khiến họ không dám cử động. Trong một vài trường hợp thì đau bụng mất đi khi bệnh tiến triển nặng. Các bác sĩ cho rằng điều này là do tuyến tụy không còn tiết ra các men nữa.

Những bệnh nhân bị viêm tụy mạn thường sụt cân, thậm chí khi cảm giác thèm ăn cũng như thói quen ăn uống của họ bình thường. Điều này là do cơ thể không tiết đủ men tụy cần để tiêu hoá thức ăn, do đó chất dinh dưỡng không được hấp thu bình thường. Tiêu hóa kém dẫn tới mất mỡ, đạm và đường vào phân. Tiểu đường cũng có thể gặp ở giai đoạn này nếu các tế bào sản xuất insulin của tụy (các tế bào đảo) bị tổn thương.

Cách chẩn đoán viêm tụy mạn

Chẩn đoán có thể khó khăn nhưng được hỗ trợ bởi nhiều kĩ thuật mới. Các xét nghiệm chức năng tụy giúp bác sĩ quyết định xem tuyến tụy có thể tạo đủ các men tiêu hoá hay không. Bằng cách sử dụng một số kỹ thuật như siêu âm, chụp mật tụy ngược dòng qua nội soi (ERCP) và chụp CT, bác sĩ có thể phát hiện những bất thường của tuyến tụy. Trong những giai đoạn bệnh nặng hơn khi tiểu đường và suy dinh dưỡng (là do thiếu hụt men) xảy ra, người bác sĩ có thể xét nghiệm máu, nước tiểu và phân để giúp chẩn đoán viêm tụy mạn cũng như để theo dõi tiến triển của bệnh.

Cách điều trị viêm tụy mạn

Các bác sĩ làm giảm đau, kiểm soát tình trạng suy dinh dưỡng và các vấn đề chuyển hoá trong điều trị viêm tụy cấp. Thông qua giảm khẩu phần mỡ và uống thuốc có men tụy, bệnh nhân có thể giảm lượng mỡ và đạm mất trong phân. Điều này dẫn tới dinh dưỡng tốt hơn và tăng trọng. Đôi khi, để kiểm soát tình trạng đường huyết thì insulin hoặc một số loại thuốc khác cần phải được sử dụng.

Trong một số trường hợp, cần phải phẫu thuật để giảm đau thông qua dẫn lưu một ống dẫn tụy lớn. Đôi khi, cần phải cắt một phần hay gần hết tụy để cố gắng làm giảm đau.

Bệnh nhân phải ngưng uống rượu, theo sát chế độ ăn được đề ra và sử dụng thuốc hợp lí để khiến các đợt bùng phát ít đi cũng như nhẹ hơn.

Sơ lược về viêm tụy

Viêm tụy là một bệnh trong đó tụy xảy ra tình trạng viêm.

Có hai dạng viêm tụy: cấp tính và mạn tính.

Có một số nguyên nhân gây viêm tụy; những nguyên nhân được nghĩ nhiều nhất là rượu và sỏi mật.

Viêm tụy cấp thường khởi đầu bằng cơn đau vùng bụng trên.

Viêm tụy có thể nhầm lẫn với nhiều bệnh khác. Một cơn viêm tụy có thể nhẹ tới mức dường như chỉ là một rối loạn tiêu hoá; hoặc thay vào đó có thể là tử vong nhanh chóng.

Điều trị bệnh nhân phụ thuộc vào độ nặng của đợt bệnh.

Theo BSGĐ
Từ khóa: